Go Back   Diễn đàn nhà sách Sông Hương > THẾ GIỚI SÁCH > Tủ sách địa lư > T́m hiểu địa lư VN
Hỏi/Đáp Thành Viên Lịch T́m Kiếm Bài Trong Ngày Đánh Dấu Đă Đọc

 
 
Điều Chỉnh Xếp Bài
Old 06-07-2010, 04:54 AM   #1
thuydaonguyen
Lớp 12
 
Tham gia ngày: 20-08-2007
Bài gởi: 481
Default Dinh Long Hồ

Dinh Long Hồ

Dinh Long Hồ hay Long Hồ dinh (chữ Hán chính thể: 龍湖營) là một địa danh cũ ở miền Nam vào thời chúa Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

1. Nguyên nhân thành lập:
Do điều kiện lịch sử và địa lư, công cuộc mở rộng lănh thổ về phương Nam vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các chúa Nguyễn.

Bởi vậy, tiếp tục đường lối của cha ông, sau khi lực lượng Prea Sot (Sá Tốt) [1] từ Chân Lạp kéo sang quấy nhiễu ở Sài G̣n bị đánh đuổi, chúa Nguyễn Phúc Chú (hay Trú, ở ngôi: 1725-1738) liền sai đặt sở Điều khiển ở Sài G̣n, đồng thời lập châu Định Viễn, dựng dinh (doanh) Long Hồ, để cai quản hai vùng đất mới là Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long) do vua Chân Lạp là Sâtha (Nặc Tha) vừa dâng để cầu ḥa sau vụ Prea Sot. Sử nhà Nguyễn chép:

Năm Nhâm Tư thứ 7 (1732), ngài (Nguyễn Phúc Chú), thấy đất Gia Định (lúc bấy giờ chỉ toàn Nam Kỳ) rộng răi quá, bèn sai các quan chia đất ấy đặt châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ [2].

2. Trở thành một dinh trấn quan trọng:
Buổi đầu, trị sở dinh Long Hồ đặt ở thôn An B́nh Đông, thuộc xứ Cái Bè nên c̣n gọi là dinh Cái Bè (lỵ sở châu Định Viễn cũng đặt tại đây, nay thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Các chức vụ đầu dinh có lưu thủ, cai bạ và kư lục trông coi việc quân sự, hành chính và thuế vụ cho cả một miền đất rộng lớn [3].

Năm Mậu Ngọ (1738), chúa Nguyễn Phúc Khoát nối ngôi, th́ năm sau (1739), Long Hồ dinh có thêm bốn huyện nữa do đô đốc Mạc Thiên Tứ đem dâng, đó là: Long Xuyên (vùng Cà Mau), Kiên Giang (vùng Rạch Giá), Trấn Giang (vùng Cần Thơ), Trấn Di (vùng phía Bắc tỉnh Bạc Liêu). Sau đó, chúa Nguyễn đem tất cả những miền đất phương Nam đă mở mang đặt thành ba dinh và một trấn là: Trấn Biên dinh (vùng Biên Ḥa), Phiên Trấn dinh (vùng Gia Định), Long Hồ dinh (vùng Vĩnh Long) và Hà Tiên trấn (vùng Hà Tiên).

Năm Ất Hợi (1755), nội bộ vương triều Chân Lạp lại xảy ra việc tranh giành ngôi vị, tham mưu Nguyễn Cư Trinh và thống suất Trương Phúc Du được cử binh đi đánh Nặc Nguyên, lúc bấy giờ đang làm vua xứ ấy. Nặc Nguyên thua trốn sang Hà Tiên, rồi xin dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là vùng Tân An, G̣ Công) để chuộc lỗi. Năm Bính Tư (1756), chúa Nguyễn Phúc Khoát cho sáp nhập hai phủ này vào châu Định Viễn, thuộc Long Hồ dinh.

Năm Đinh Sửu (1757), vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng Châu Đốc, Sa Đéc bây giờ) để tạ ơn chúa Nguyễn, v́ đă điều động tướng Trương Phúc Du lấy lại ngôi vị cho ḿnh. Chúa Nguyễn lại sai đem đất ấy sáp nhập vào Long Hồ dinh.

Cũng ngay năm này, theo đề nghị của kư lục dinh Long Hồ là Nguyễn Cư Trinh và thống suất Trương Phước Du, chúa Nguyễn thuận cho dời trị sở dinh Long Hồ và châu Định Viễn về xứ Tầm Bào thuộc địa phận Long Hồ thôn (tức vùng chợ Vĩnh Long ngày nay). Cử Tống Phước Hiệp làm lưu thủ, đồng thời chúa Nguyễn c̣n cho lập ba đạo để hỗ trợ việc coi giữ đó là: Đông Khẩu (ở phía Nam Sa Đéc), Tân Châu (ở đầu Cù lao Giêng, không phải tại thị trấn Tân Châu ngày nay) và Châu Đốc.

Đến lúc ấy, Long Hồ dinh là một dinh trấn quan trọng ở phía Nam xứ Đàng Trong, và trung tâm đầu năo của nó có trách nhiệm cai quản cả một vùng đất rộng lớn.
Đề cập đến vai tṛ này, nhà văn Sơn Nam viết:
Kiểm soát sông Tiền, sông Hậu là vấn đề mà các chúa Nguyễn luôn quan tâm, nhất về mặt quân sự và về canh tác. Muốn dùng binh lên Cao Miên, phải cho chiến thuyền đi ngược sông Tiền để đến Nam Vang. Và đây c̣n là cuộc đất lư tưởng "sông sâu nước chảy" với những bờ đất phù sa cao ráo, rất thuận lợi cho việc trồng trọt...
Dinh Long Hồ kiểm soát được hai con sông lớn ấy. Đồng thời dinh này c̣n bao trùm luôn vùng biển vịnh Xiêm La với Long Xuyên đạo (Cà Mau), Kiên Giang đạo (Rạch Giá), chỉ trừ vùng Ba Thắc (Sóc Trăng) nơi người Miên sống quá tập trung th́ việc cai trị vẫn thuộc về họ [4].

Tháng 11 (âm lịch) năm Kỷ Hợi (1779), chúa Nguyễn Phúc Ánh duyệt lại bản đồ các dinh trong Gia Định, rồi cho dời thủ phủ Long Hồ dinh đến cù lao Hoằng Trấn ở giữa sông Hậu.
Sách Quốc triều Chính biên toát yếu chép:
Tháng 11 (âm lịch) năm Kỷ Hợi (1779), đổi dinh Long Hồ làm Hoằng Trấn, lănh việc coi châu Định Viễn và ba tổng là B́nh An, B́nh Dương và Tân An [5].
Tuy nhiên, chỉ mới năm sau (Canh Tư, [1780]), th́ lại cho lui về nơi cũ. Trịnh Hoài Đức giải thích:
Năm Kỷ Hợi (1779), đổi tên gọi là dinh Hoằng Trấn, lỵ sở ở chỗ ngày nay tục gọi là băi Bà Lúa. Năm Canh Tư (1780), v́ nghĩ rằng khi nước Cao Miên hữu sự, ở xa khó bề chế ứng nên phải đem lỵ sở trở lại đất thôn Long Hồ...[6]

Năm 1779, trên giấy tờ, địa danh Long Hồ dinh xem như không c̣n tồn tại nữa. Kể từ đó, Long Hồ dinh xưa lần lượt trải qua các tên gọi khác và địa phận cai quản của nó cũng bị thu hẹp dần:
-Năm 1779-1804: gọi là Hoằng Trấn dinh. Tuy nhiên, vẫn có người gọi theo tên cũ là Long Hồ dinh.
-Năm 1804-1808 gọi là Trấn Vĩnh dinh (hay Vĩnh Trấn dinh) [7].
-Tháng giêng năm 1808 [8]-1832 gọi là Vĩnh Thanh trấn.
-Năm Nhâm Th́n (1832), vua Minh Mạng chia Nam Kỳ thành lục tỉnh [9], th́ Vĩnh Thanh trấn trở thành Vĩnh Long tỉnh cai quản 4 phủ, 8 huyện, 47 tổng.

Hiện nay, địa danh Long Hồ c̣n là tên của một con sông (sông Long Hồ) chảy qua một địa phận cùng tên đó là huyện Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long.

3.Hoàn thành vai tṛ lịch sử:
Theo Đại Nam nhất thống chí, th́ đất Tầm Bào (nơi đặt trị sở Long Hồ dinh ở Vĩnh Long) là một vùng đất màu mỡ do phù sa con sông Cổ Chiên bồi đắp, sông có nước đục nhưng ngọt quanh năm, rất thuận tiện việc trồng tỉa, chăn nuôi và sinh hoạt của cư dân...

Nhờ vậy, địa phận Long Hồ thôn, nhanh chóng trở thành một trung tâm quan trọng về nhiều mặt suốt một thời gian dài. Trong một bài viết của Hà Ngọc Trảng trên báo Vĩnh Long (ngày 29 tháng 4 năm 2009) có đoạn:
Năm 1732, Long Hồ dinh ra đời định vị một cuộc đất quan trọng đối với phương Nam về mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... Và trong suốt 277 năm đồng hành cùng những biến cố thăng trầm của lịch sử, Long Hồ dinh–Vĩnh Long đă hoàn thành xuất sắc vai tṛ sứ mạng lịch sử của ḿnh.

Đặc biệt về mặt quân sự, ngoài những trận đối đầu ác liệt giữa quân chúa Nguyễn và quân Tây Sơn, sử cũ c̣n ghi lại nhiều trận giao chiến dữ dội giữa quân Việt với quân Xiêm và quân Chân Lạp ở những vùng đất mà Long Hồ dinh cai quản, và lần nào trị sở Long Hồ dinh ở Vĩnh Long cũng đều đảm nhận vai tṛ là đại bản doanh, là đầu năo của quân đội Việt ở phía cực Nam.

Măi đến thời thực dân Pháp sang xâm lược Việt Nam, vai tṛ này vẫn tiếp tục tồn tại mặc dù tên dinh trấn đă khác. Và nó chỉ thật sự chấm dứt kể từ khi lăo thần nhà Nguyễn là Phan Thanh Giản tuẫn tiết và quân Pháp chiếm trọn Nam Kỳ năm 1867.

Thành Vĩnh Long
Thành Vĩnh Long hay thành Long Hồ ở Vĩnh Long, được xây dựng dưới triều Nguyễn, là thành tŕ và là trị sở chi phối về quân sự-kinh tế-văn hóa cả khu vực miền Tây Nam Kỳ thời bấy giờ. Ṭa thành từng bị quân Pháp đánh phá hai lần: năm 1862 và 1867. Đến lần thứ hai, th́ toàn thể Nam Kỳ cũng dần mất hết về tay Pháp. Đây là nơi lưu dấu của vương triều chúa Nguyễn-nhà Nguyễn và cũng là nơi chứng kiến sự bất lực và cái chết của lăo thần Phan Thanh Giản, v́ đă không thể hoàn thành được trọng trách của ḿnh.

1. Tổng quan:
Thành Vĩnh Long xưa tọa lạc trên một g̣ đất cao (nay gần như đă phẳng) ở tại giao lộ 19 tháng 8 và đường Hoàng Thái Hiếu, thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Thành tŕ của dinh Long Hồ thời chúa Nguyễn không có thông tin, v́ sử sách không biên chép và cũng không c̣n lưu lại dấu tích ǵ.
Thành Vĩnh Long thời nhà Nguyễn, nhờ Trịnh Hoài Đức mà biết được như sau:
Ngày 22 tháng 2 niên hiệu Gia Long thứ 12 (Quư Dậu, 1813), đắp thành tŕ, dựng công thự trên đất hai ấp B́nh An và Trường Xuân thuộc thôn Long Hồ (nay thuộc Phường 1, thành phố Vĩnh Long). Đây là vùng có dăy sông lớn ôm quanh, giữ thế quan yếu, đúng là phên giậu vững vàng của thành Gia Định, khống chế Cao Miên, hai con sông lớn (sông Tiền và sông Hậu) chẹn chỗ hiểm yếu, giao thông đường thủy hết sức tiện lợi, ruộng vườn cũng rất tốt tươi...(phần Trấn Vĩnh Thanh)

Theo các nhà nghiên cứu, th́ người lănh trọng trách xây thành là khâm mạng trấn thủ Lưu Phước Tường. Thành đắp bằng đất, kiểu Vauban (kiểu kiến trúc thành lũy Tây Âu ở thế kỷ 17-thế kỷ 18), cửa chính hướng Đông Nam, lưng quay hướng Tây Bắc. Chu vi thành rộng 750 trượng, cao 1 trượng dày 2,5 trượng. Quanh thành có hào rộng, sông sâu.


Súng thần công của thành Vĩnh Long xưa, đang được trưng bày trong khuôn viên Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
Thành có 4 cửa h́nh ṿm cong: cửa Tả nh́n ra sông Long Hồ, cửa Hữu nh́n ra rạch Ngư Câu (rạch Cái Cá), cửa Tiền nh́n ra đường Cầu Lầu, cửa Hậu nh́n ra sông Cổ Chiên (một nhánh lớn của sông Tiền). Bốn góc thành tạo thành h́nh hoa mai.

Trong thành, có 2 con đường dọc, 3 con đường ngang, có các công thự như: hành cung, nhà thừa ty, kho lương, trại lính...Phía Đông thành có quan lộ chạy dọc sông Long Hồ, phía trái là nhà Sứ Quán, phía phải là chợ Vĩnh Thanh (tức chợ Vĩnh Long ngày nay). Ở góc Nam của thành, có xưởng Thủy sư (xưởng đóng tàu chiến). Bên kia Cầu Lầu có xóm Ḷ Rèn chuyên làm đồ binh khí cho quân lính. Ngoài ra ở quanh thành c̣n có đàn Xă Tắc, đàn Tiên Nông và miếu Văn Thánh.

Để yểm trợ ṭa thành này khi có biến, viên trấn thủ c̣n cho dựng lên ở giữa Cầu Lầu một trạm gác (bốn phía có lỗ châu mai) và hai đồn nhỏ: một ở phía Đông băi Tiên và một ở Vàm Tuần.

Nh́n chung, thành Vĩnh Long tuy không rộng nhưng được xây dựng kiên cố, bố pḥng chặt chẽ, thuận tiện đường tiến thủ.

Trong thời kỳ quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, thành Vĩnh Long thất thủ hai lần: năm Nhâm Tuất (1862) và năm Đinh Măo (1867). Sau khi thành Vĩnh Long thất thủ lần thứ hai, quân Pháp đă phá tan tất cả đồn lũy và san bằng ṭa thành, chỉ duy nhất c̣n lại một cây da và một ngôi miếu nhỏ ở cửa Hữu. Vào thập niên 50, cây da này bị lụi tàn. Sau đó, từ thân cây mẹ, mọc lên cây đa con và phát triển tươi tốt cho đến ngày nay.

Năm 2000 di tích Cây Da Cửa Hữu được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa. Trải qua thời gian dài, v́ nhiều nguyên nhân, di tích đă bị xuống cấp nghiêm trọng. Sau khi phục hồi (ngôi cổ miếu) & tôn tạo (cửa Hữu, nhà bia tưởng niệm), lễ khánh thành đă được tổ chức vào chiều 28 tháng 4 năm 2008.

2. Thơ cảm hoài:
Năm 1862, thành Vĩnh Long thất thủ lần đầu, tiếp theo là Hiệp ước Nhâm Tuất ra đời, danh sĩ Phan Văn Trị đă làm một bài thơ như sau:

Thất tỉnh Vĩnh Long
Ṭ te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai, dạ xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa.
Tan nhà cám nỗi câu ly hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng ḥa
Gió bụi đ̣i cơn xiêu ngă cỏ,
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.

Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn
Chú thích:
[1] Có sách ghi người cầm đầu tên là Sà Tốt. Nhưng theo các biên niên sử Chân Lạp th́ đây chỉ là một di dân Lào ở làng Prea Sot (Sà Tốt) mà thôi (ghi chú của Nguyễn Đ́nh Đầu trong Địa chí Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, tr. 159).
[2] Trong Le Cisbassac, Trương Vĩnh Kư cho rằng Long Hồ từ tiếng Khmer (lơn ḥr) mà ra. Tuy nhiên Vương Hồng Sển vẫn c̣n ngờ khi viết rằng: "Có lẽ đây là Miên gọi theo ta?" (Tự vị tiếng nói Miền Nam. Nhà xuất bản Trẻ, 1999, tr. 413). Trong Gia Định thành thông chí (phần Trấn Vĩnh Thanh), tên sông Long Hồ được Trịnh Hoài Đức giải thích như sau: "Sông này chảy đến quanh co, chảy đi ṿng vèo, ḍng ngang uốn lượn, nước đọng trong ngần, bốn mùa ngon ngọt; cồn cát cao thấp xa gần, thôn xóm la liệt khắp đông tây ẩn hiện như rừng, như động, như vực, như đầm, nên mới gọi là Long Hồ (Hồ Rồng)". Tin theo đây, th́ tên đất (Long Hồ) có nguồn gốc từ tên sông.
[3] Quốc triều sử toát yếu (Chính biên, tr. 46). Dinh Cái Bè là vùng đất rộng nằm hai bên bờ sông Tiền, nhưng v́ mới khai phá nên chỉ lập một châu là Định Viễn, chưa lập phủ huyện.
[4] Sơn Nam, trang 37 và tr. 39.
[5]Thông tin thêm: "Đồng thời đạo Trường Đồn (tức Mỹ Tho và Cao Lănh, được lập năm 1753) là chỗ đất quan yếu trong ba dinh, cho nên đặt dinh Trường Đồn" (Quốc triều Chính biên toát yếu, tr. 27).
[6] Gia Định thành thông chí (phần Trấn Vĩnh Thanh). Ở đây, Trịnh Hoài Đức viết thêm là: "trở lại đất thôn Long Hồ đổi tên là dinh Vĩnh Trấn". Nhưng theo sử Nguyễn vừa ghi bên trên và một vài sách khác, th́ Long Hồ dinh đổi tên là Hoằng Trấn dinh, đến năm 1804 mới "chính thức" đổi tên là Vĩnh Trấn dinh. T́m hiểu sự sai biệt này, thấy trong "Vĩnh Long xưa" của Huỳnh Minh có đoạn: "Thực ra, Nguyễn Phúc Ánh đă đặt tên Vĩnh Trấn dinh từ năm 1788, sau khi thu phục thành Gia Định. Nhưng bấy giờ hăy c̣n bận chinh chiến, việc cải tổ chưa thể dứt khoát (tr. 20).
[7] Trấn Vĩnh dinh là chép theo sử Nguyễn. Huỳnh Minh và một số tác giả khác ghi là Vĩnh Trấn dinh.
[8] Chép theo Quốc triều Chính biên toát yếu (tr. 96). Thông tin trên Website tỉnh Vĩnh Long ghi 1806 là không chính xác.
[9] Lục tỉnh gồm: Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Theo Nguyễn Q. Thắng, nhà Nguyễn đặt tên lục tỉnh dựa theo sau chữ cuối của một câu thơ cổ: Khoái mă gia biên vĩnh định an hà, nghĩa: Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước (Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, in trong sách Nam Bộ xưa và nay, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr.147). Tuy nhiên, theo sách An Giang xưa và nay th́ địa danh An Giang đă có từ 1779 đời chúa Nguyễn Phúc Ánh (tác giả: Người Long Xuyên, phát hành trước 1975, tr. 10), cho nên thông tin trên cần tra cứu thêm.

Tài liệu tham khảo chính:
-Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên). Nhà xuất bản Văn Học, 2002.
-Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam. Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
-Huỳnh Minh, Vĩnh Long xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên in lại năm 2002.

Xem ảnh tại đây: http://thuydaonguyen.blogspot.com/20...vinh-long.html

thay đổi nội dung bởi: thuydaonguyen, 06-07-2010 lúc 07:32 AM.
thuydaonguyen is offline  
 


Điều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 07:54 PM.


Powered by: vBulletin , Jelsoft Enterprises Ltd.