Go Back   Diễn đàn nhà sách Sông Hương > CLB SÁCH XƯA & NAY > Bản tin > Bản tin số 8
Hỏi/Đáp Thành Viên Lịch T́m Kiếm Bài Trong Ngày Đánh Dấu Đă Đọc

 
 
Điều Chỉnh Xếp Bài
Old 28-05-2007, 09:49 PM   #1
adminclb
Lớp 12
 
Tham gia ngày: 26-05-2007
Bài gởi: 492
Default Kim Gia Định Phong Cảnh Vịnh

Giới thiệu một bản văn lục bát xưa nhất nói về Sàig̣n:

Kim Gia Định Phong Cảnh Vịnh
今嘉定風景咏
Nguyễn Văn Sâm


Lâu nay chúng ta nghe nói Cổ Gia Định Phong Cảnh Vịnh và Kim Gia Định Phong Cảnh Vịnh nhưng ít ai thấy đọc được bài Kim Gia Định, cho nên càng không biết tác giả là ai. Các sách viết về Trương Vĩnh Kư thường ghi danh sách các tác phẩm của Trương Vĩnh Kư một cách mơ hồ rằng tác phẩm của ông gồm: ….Kim Gia Định Phong Cảnh Vịnh… Thật ra đây là một trong nhiều bản văn do ông phiên âm từ chữ Nôm ra quốc ngữ. Ông không phải là người sáng tác mà chỉ là người có công chuyển âm từ loại chữ xưa gần hết dùng ra loại chữ trên đà được thông dụng. Đo đó, để cho công b́nh và chính xác, khi liệt kê các tác phẩm của ông, những bài văn do ông chuyển ngữ phải được nói ra rơ ràng để người đọc biết rằng công tŕnh của ông ở loại nầy chỉ là chuyển ngữ, giới thiệu, phiên âm, một công tŕnh mang tính cách công việc phổ biến chớ không phải là công tŕnh mang tính cách tư tưởng.

Về Kim Gia Định Phong Cảnh Vịnh, cũng như những công tŕnh tương tợ, trên b́a sách ông Trương Vĩnh Kư đă đề rơ ràng: chép ra chữ quốc ngữ và dẫn giải. Đó là một sự thành thật tri thức của ông mà ta phải công nhận, tiếc rằng người đời sau do sự thiếu thốn tài liệu, không được thấy được bản in do ông xuất bản, người nầy theo người kia nói lại một cách mơ hồ cho nên mới có sự nhập nhằng khiến nhiều thế hệ sau cứ tưởng rằng một số tác phẩm là của Trương Vĩnh Kư, trong khi thật ra là của người khác mà chúng ta biết tên hay không.

Về Kim Gia Định Vịnh ta có tên tác giả. Hăy đọc lời giới thiệu của Trương Vĩnh Kư năm 1882:

‘Điệu vịnh nầy là của hai Đức ở Chợ-lớn, hiệu là Tập-phước, mới mất năm nay, làm về địa-cảnh đất Chợ-lớn, Bến-nghé đời bây-giờ, kể từ Phú-lang-sa lại cho tới nay, lập ra thế nào, khen khéo-để sửa-sang, cho ra cảnh tốt, cho nên thú vui.
Văn đặt thành thật, lời nói dễ hiểu; cũng nên in ra để đời cho người-ta coi, cùng để lại người đời sau cho biết đời nay đất nầy là như-vậy, hoặc sau sẽ ra tốt hơn nữa chăng? dẫu cuộc đổi-dời cồn có hóa nên vực, vực có hóa nên cồn đi nữa, th́ cũng hăy-c̣n tích lại mà nhắc.’

Nhờ Trương Vĩnh Kư ta biết tác giả tên bài văn trên tên Đức, không biết họ, chỉ biết thứ, thứ hai - con đầu ḷng- mất năm 1882, ông có tên hiệu là Tập Phước, tiếc là ta không được giới thiệu nhiều hơn về tác giả nầy.

Một câu trong bài văn cho ta biết năm sáng tác cũng là năm ông mất: Hai mươi năm đă rơ ràng cuộc vui. Người Pháp lấn chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ 1862, hai mươi năm sau như bài văn nói tức là 1882.

Kim Gia Định Phong Cảnh Vịnh nói về những điều mà người dân lúc đó lạ lẫm: giây thép, tàu chạy dưới sông, xe làm đường, máy làm nước đá, sông đào, cầu xây, nhà thương, toà án…

Một chi tiết xem chừng là quan trọng: Sàig̣n Chợ-lớn được tạo dựng:

Sửa sang địa thế tập tành dân phong.
B́nh Dương với huyện Tân-long,
Đặt làm thành phố chỗ trong chỗ ngoài.
Sài-g̣n Chợ-lớn chia hai,
Tên th́ có khác, đất th́ cũng liên.
Dưới sông tàu lữa đậu liền,

Vậy th́ chắc chắn là Chợ-Lớn tách ra khỏi Sàig̣n khi người Pháp đến, và địa phận Sàig̣n Chợ-lớn là hai huyện cũ B́nh-dương và Tân-long của Gia Định được cải tổ, xây dựng thêm.
Ngoài ưu điểm ghi lại được h́nh ảnh Sàig̣n khi mới bắt đầu chuyển ḿnh, bài văn mang một vết đen là ca tụng sự khôn khéo, mạnh mẽ, văn minh của người Pháp, một điều có thể là cần thiết lúc đó để bài văn được lưu truyền và tác giả được b́nh yên, nhưng rất khó chịu trong con mắt của chúng ta ngày nay trong tinh thần tự ái dân tộc. Chuyện ca tụng Pháp như thế nầy ta cũng thấy chút đỉnh trong bài thơ dài Thơ Nam Kỳ mà M. D. Chaigneau giới thiệu và dịch ra Pháp văn năm 1876, khi có dịp thuận tiện chúng tôi sẽ giới thiệu.

Điều đáng tiếc nhứt là ông Trương Vĩnh Kư khi phiên âm và giới thiệu đă không cho in bản Nôm đi kèm, có lẽ ông nghĩ cái thứ chữ đó nên quên đi, bây giờ muốn kiểm chứng lại bản phiên âm của ông cũng không được, muốn nghiên cứu chữ Nôm cuối thế kỷ 19 cũng thiếu mất một tài liệu mà ta có thể có. Thiệt là đáng tiếc.

NVS

Công dư đương lúc thảnh thơi,
Nh́n trông phong cảnh đặt lời nôm na.
Dở dang việc trước kể ra,
Thấy tay những khách phương xa nghe cùng.
Đổi dời là máy hóa công,
Mở đường tang hải kết ṿng phiền hoa.
Vận trời năm thứ mười ba,
Việt-Nam cùng Phú-lang-sa giao ḥa.
Riêng chia sáu tỉnh sơn-hà,
Định-tường, Gia-định, Biên-ḥa, Vĩnh-Long.
An-Giang tỉnh sắp vô trong,
Đến Hà-Tiên tỉnh giáp ṿng Cao-Mên.
Băi binh hai chữ chiếu vàng,
Sông êm Bến Nghé khói tan Đầm Rồng.
Hết ai xưng bá xưng hùng ,
Tháp-Mười đồn phá, G̣-Công lũy bằng.
Lệnh trời một tiếng đă rằng,
Hoàng triều đóng ấn, đ́nh thần kư tên.
Người giao người lănh thuận t́nh,
Mấy điều nghị ước đôi bên như lời.
Quan quân rày đặng thảnh thơi,
Lấp đàng hờn giận, kết người anh em.
Muôn dân nệm ấm gối êm,
Khỏi điều lưu-lạc lại thêm sum vầy.
Xưa Nam nay đă về Tây,
Lang-sa nguơn soái một tay quờn hoành.
Gồm coi thủy lục chư dinh,
Một ḿnh khiển tướng một ḿnh đề binh.
Ngồi trên cầm mực công b́nh,
Sửa sang địa thế tập tành dân phong.
B́nh-dương với huyện Tân-long,
Đặt làm thành phố chỗ trong chỗ ngoài.
Sài-g̣n Chợ-lớn chia hai,
Tên th́ có khác, đất th́ cũng liên.
Dưới sông tàu lữa đậu liền,
Từ đồn Giao-khẩu sấp lên Bà-nghè .
Thông lưu các nước bộn bề,
Có tàu Đông-việt có ghe Bắc-kỳ.
Bán buôn vật nọ hàng kia,
Lao-xao thương-khách xiết ǵ là đông.
Chiếc qua chiếc lại đầy sông,
Mù-mù khói tỏa, đùng-đùng mây kêu.
Những tàu đồng dát sắt neo,
Càng nh́n tạn mặt càng xiêu cả hồn.
Sợ chi nghịch thủy nghịch phong.
Dầu ḷng chạy ngược dầu ḷng chạy xuôi.
Dưới sông sự tích thảy rồi,
Thôi th́ trót thể thử coi trên bờ,
Gia-tân nền trạm thuở xưa,
Ngày nay có dựng cột cờ gần bên.
Tư bề dây-thép giăng lên,
Lưu-thông các thứ báo tin truyền lời,
Đàng xa ba bốn ngày trời,
Máy dây đi một khúc thời tới nơi,
Chuyện tṛ mấy tiếng mấy lời,
Hẵn-ḥi nào có vi sơ chút nào,
Cánh chim bay hăy c̣n lâu,
Máy nầy sức mạnh quá mau dư mười.
Nhiều nơi cơ-xảo khác đời,
Gẫm điều nên lạ, gẫm điều nên hay.
Những là máy để cưa cây,
Máy xay lúa gạo, máy may áo quần.
Máy đàng, máy tuyết lạ chừng ,
Dễ coi trước mặt, khó phân ra lời.
Từ đây biết sức biết tài,
Nhiều tay khôn khéo nhiều người giàu sang.
Của kho xuất phát bạc vàng,
Lập ra trại lính dinh quan thiếu ǵ.
Có ṭa Nguơn-soái lạ-ḱ,
Đá xây làm cột sắt vây làm rào.
Năm từng lầu rộng lại cao ,
Cờ treo trước cửa quân hầu ngoài sân.
Rỡ ràng có chất có văn,
Biết chừng nào tốt, biết chừng nào khen.
Giá dư trăm vạn trăm ngàn,
Công phu mà sợ bạc tiền mà kinh.
Tam-ṭa lập sở công h́nh,
Để phân tội trọng tội khinh cho người.
Thượng ṭa phúc án các nơi,
Những người kêu ức, những người kêu oan.
Có người mi phạm cấm giam,
Ngục môn là chữ, khám đường là tên.
Có nhà nuôi kẻ tật nguyền,
Thuốc thang cho uống, cơm tiền cho ăn.
Có nhà dạy học thơ-văn,
Chiếu giường sẵn cắp, áo quần sẵn ban.
Có người pḥng-ngự loài gian,
Ngày đêm đi khắp các làng tuần-canh.
Áo đen tay có viền xanh,
Tiếng kêu Police, Giám-thành là tên.
Có trường bắn súng diễn binh,
Tập-luyện nhiều cách, công-tŕnh nhiều năm.
Có vườn nuôi thú nuôi cầm,
Mấy ngàn thảo mộc, mấy trăm phi-trùng ,
Có trường đấu-xăo lạ-lùng,
Chư-ban đủ món, bá-công đủ nghề.
Những đồ các nước thiếu chi,
Vật khen trọng-thưởng, vật chê phát-hồi.
Dập-d́u kẻ tới người lui,
Bên coi thứ nọ, bên coi thứ nầy.
Biết bao nhiêu khéo nhiêu hay!
Cuộc vui kể trót tháng chầy mới thôi.
Trường đua xe ngựa cũng vui,
Hơn th́ có thưởng, thua lui ra về.
Xa gần đất chợ làng quê,
Cùng nhau đem ngựa đem xe đến tràng.
Cười-cười nói-nói vang đàng,
Kể sao cho xiết muôn ngàn người đông.
Chẳng phiền hao của tốn công,
Mở đàng ngang đọc đào sông vắn dài.
Đàng th́ đă rộng lại ngay,
Trên đầu che mát có cây hai hàng.
Mỗi sông có bắt cầu ngang,
Đá xây bốn phía sắt ràng hai bên,
Mỗi đàng tối có thắp đèn,
Dưới sông trên bộ sáng liền nối nhau.
Năm canh rực rỡ một màu,
Như trăng chói đất, như sao ḷa trời.
Biết bao nhiêu thú chơi bời ,
Những nơi hí viện, những nơi tửu lầu.
Phong lưu lắm thú phong lưu,
Ngồi coi cỡi ngựa mặc dầu ư ai.
Thiếu chi gái sắc trai tài,
Áo quần rực rỡ hớn hài xuê-xoang.
Phố phường ṭa dọc dăi ngang,
Có hàng đồ Bắc, có hàng đồ Nam.
Bán buôn tiền vạn bạc ngàn,
Nhộn-nhàng khiêng gánh lăng xăng ra vào.
Đêm th́ tiệc khách lao-xao,
Đứa rao ngưu nại, đứa ra hạnh trà.
Đứa th́ cháo vịt cháo gà,
Cùng là công bính, cùng là hoa sanh.
Những là đậu chúc liên canh,
Sa-lê quả-tử, ngồi quanh các đàng.
Đèn chong ghế sắp hai hàng,
Dễ mê con mắt, dễ hoang tâm t́nh.
Dầu không ví cảnh Bồng-dinh,
Cũng là thứ nhứt các thành cơi Nam.
Chẳng tiên song cũng khác phàm,
Ai gây mà đặng ai làm mà ra?
Non sông lục tỉnh nước ta,
Xưa là thế ấy, nay ra thế nầy.
Tu bồi đă lắm công dày,
Trên là Nguơn-soái, dưới th́ các quan .
Cũng v́ khéo tính khéo toan,
Hai mươi năm đă rơ ràng cuộc vui.
Gần đây trước mắt thấy rồi,
Gởi lời hỏi với những người phương xa.
Hẵn ḥi sự thật kể ra,
Dám đâu thêu dệt, dám là khoe khoang.
Lời quê tiếng tục ngang tàng,
Giải khuây có chút can tràng ngâm nga.

[Chép y theo nguyên văn bản Trương Vĩnh Kư, Nhà in Guilland et Matinon, Saigon, 1882, 11 trang. Các chú thích ở bản nầy là của NVS, những chú thích của TVK sẽ được thêm vào ở một dịp khác. Virginia, cuối tháng 12, 2006. NVS]
adminclb is offline  
 


Điều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 12:18 AM.


Powered by: vBulletin , Jelsoft Enterprises Ltd.