Go Back   Diễn đàn nhà sách Sông Hương > CLB SÁCH XƯA & NAY > Bản tin > Bản tin số 18
Hỏi/Đáp Thành Viên Lịch T́m Kiếm Bài Trong Ngày Đánh Dấu Đă Đọc

 
 
Điều Chỉnh Xếp Bài
Old 22-04-2008, 06:11 PM   #1
adminclb
Lớp 12
 
Tham gia ngày: 26-05-2007
Bài gởi: 492
Default ThÀnh HÀ NỘi VỀ ThỜi CỐ Alexandre De Rhodes

THÀNH HÀ NỘI VỀ THỜI CỐ ALEXANDRE DE RHODES

TRƯỚC 1627
Thành phố Hà Nội ngày nay, là khu đất có dân cư từ đời tiền lịch sử, tức là từ trước đời Việt Nam lập quốc. Biết vậy, song thời ấy sử sách không có, nên không thể tra cứu rơ hơn về vị trí, danh hiệu và sự quan hệ của địa điểm ấy về đời thái cổ.
Chỉ biết rằng, về đời nước ta thuộc quyền cai trị nhà Hán bên Tàu, th́ Hà Nội là đất huyện Mê Linh, thuộc quận Giao Chỉ. Và từ đấy Hà Nội đă là một nơi thủ đô, v́ dinh Thái Thú lập ở đó. Thời ấy Hà Nội là huyện Long Biên.
Đời thuộc Tùy, thủ phủ Giao chỉ vẫn ở Hà Nội.
Đến đời thuộc Đường, Long Biên là phủ lỵ, phủ Đô Hộ. Quan Đô Hộ nhà Đường là Trương Bá Nghi đắp thành lũy quanh phủ Đô Hộ gọi là thành Đại La. Hai quan Đường kế vị sau là Triệu Xương và Lư Nguyên Gia lần lượt tiếp tục sửa sang thêm.
Nhưng quy mô có lẽ chưa được rộng lớn cho lắm. Nên năm 866 quan Tiết độ sứ nhà là Cao Biền phá đi xây lại theo một quy mô khác, vĩ đại, kiên cố hơn.
Thành Đại La của Cao Biền chu vi đo được 1982 trượng 5 thước, đường thành cao hai trượng sáu thước, chân thành rộng hai trượng chín thước, thật gần giống quy mô Vạn Lư Trường Thành ở Tàu.
Thành tŕ kiên cố, đồ sộ như vậy chưa đủ. V́ nước sông Hồng Hà thường trào lên ngập cả chân thành. Cao Biền liền sai đắp quanh thành một con đê dài 2125 trượng để ngăn nước lụt.
Đến đời Ngũ Quỷ, vua Tiền Lư, Nam Việt Đế tức là Lư Bư (hoặc Lư Bân) đánh đuổi quan thứ sử nhà Lương, đóng đô ờ Đại La, lúc ấy cải gọi là thành Long Biên.
Vua Triệu Việt Vương húy Quang Phục cũng đánh tan quân Lương, giữ thành Long Biên làm kinh đô.
Mai Hắc Đế cũng đóng đô ở Long Biên, sau bị quân Đường sang đánh chiếm mất.
Năm 791 ông Phùng Hưng tức Bố Cái Đại Vương đem quân vây phủ Đô Hộ, quan Đô Hộ nhà Đường là Cao Chính B́nh lo sợ quá mà chết. Bố Cái Đại Vương liền đem quân giữ thành Long Biên.

Vua Đinh Tiên Hoàng người quán đất Hoa Lư, nên thiên đô về nơi phát tích là Hoa Lư.
Lần thứ nhất, Long Biên mất ngôi thủ phủ.
Sau khi nhà Đinh và nhà Tiền Lê mất, Lư Công Uẩn lên ngôi vua tức là Lư Thái Tổ về đóng đô ở Hoa Lư.
Sau thấy Hoa Lư chật hẹp, không thể mở mang cho phồn thịnh hơn được, nhà vua liền dời đô về thành Đại La, và cải gọi là thành Thăng Long.
Nhà Lư mất về nhà Trần, kinh đô vẫn không đổi chủ. Song đến hồi Trần Mạt, Hồ Quư Ly chấp chính quyền hành định xây thành Tây Giai ở Thanh Hóa, có ư muốn thiên đô vào đó, nên cải gọi Thăng Long làm Đông Đô đối với Tây Đô (là tên thành Tây Giai).
Nhà Hồ mất về nhà Minh.
Thành Đông Đô (tức Thăng Long) người Minh đổi tên là thành Đông Quan.
Sau 10 năm b́nh định, vua Lê Thái Tổ lên ngôi, đổi Đông Đô ra làm Đông Kinh.
(Chữ Tonkin tức là do chữ Đông Kinh này mà ra vậy).
Thành Đông Kinh là Kinh Đô nước ta cho đến hết đời vua Lê và đời chúa Trịnh.
Khi vua Gia Long thống nhất thiên hạ, dựng nên đế nghiệp th́ ngài đóng đô ở Phú Xuân tức là Kinh Đô Huế ngày nay. Năm Gia Long thứ bốn có dự cải tên thành Đông Kinh là thành Thăng Long là tên cũ có từ đời Lư. Từ đời Nguyễn trở đi, Thăng Long không là đế đô, nhưng vẫn là thủ phủ Bắc Thành. Tới nay, cải gọi là Hà Nội, Thăng Long cũng vẫn là một nơi thủ phủ của chính phủ Bảo Hộ.

Trải qua bao nhiêu triều vua chúa, đời nào Thăng Long cũng được sửa sang, thêm bớt không thể phân biệt được đời nào xây những bộ phận nào nữa.
Theo bản đồ thành Thăng Long đời Hồng Đức (Lê) th́ phía đông thành khởi từ làng Đức Môn, tổng Đồng Xuân (tức phía cửa Đông) bắc đến sông Tô Lịch (nay là phố sông Tô Lịch) tây đối với Nhật Chiến (nay là Nhật Tân) nam đến Văn Miếu. Ở trong cùng là cung thất có cung điện nhà vua, ở giữa là hoàng thành, ở ngoài cùng là thành phố có các phố buôn bán và công nghệ.
Các nhà truyền giáo và thương mại Tây phương hồi thế kỷ thứ 17, tả cảnh, kinh đô nhà Lê, đều gọi cái tên nôm là Kẻ chợ (Chacho).

KẺ CHỢ
Theo những bản đồ hồi xưa c̣n để lại th́ Hà Nội lúc đó không phải là một thành phố hẳn mà chỉ là một nơi đô hội gồm có một chốn kinh đô có thành cao, hào sâu bao bọc quanh những dinh thự, đền đài của nhà vua, một thị trấn thương mại có nhiều đường phố chật hẹp mà hai bên bờ phần nhiều là những nhà gianh lụp xụp có rất ít nhà gạch chen vào và nhiều làng mạc ở liền nhau trên những hồ ao lớn nhỏ. Kinh đô nhà vua ở trong một khu h́nh như rộng hơn khu mà ngày nay ta gọi là khu trong thành nhiều, gồm có cung điện nhà vua với rất nhiều phụ thuộc vào đấy cùng dinh thự các thượng quan trong triều. C̣n khu thị trấn buôn bán dân gian rất đông đúc th́ ở vào khoảng giữa từ thành nhà vua cho đến bờ sông Nhị Hà. Ngoài những làng ở rải rác giữa một khoảng đất có nhiều hồ ao và ruộng nương trong khu Đại la thành mà xung quanh nhiều chỗ có thành đất là một ngôi thành xây lên từ thế kỷ thứ chín, người ta lại thấy có nhiều khu xung quanh bao bọc bằng tường cao như khu văn Miếu, khu Trường Thi, khu Trường Tiền và rất nhiều đền chùa nhiều ngôi khá lớn. Những di tích ở Hà Nội về thời kỳ đó nay không c̣n mấy nữa, trong những di tích đó ngày nay chỉ c̣n có nhà Văn Miếu là con bảo tồn được nguyên vẹn, c̣n những thành quách, lâu đài, dinh thự và đền chùa khác th́ nơi chỉ c̣n một mảnh, nơi đă biến hết nhường chỗ cho những dăy nhà, những biệt thự tối tân hoặc những công viên rộng răi. Cái quang cảnh của Kẻ chợ ngày xưa họa chăng th́ c̣n lại ở trong khối óc các nhà khảo cổ hoặc trên những bản đồ, bức vẽ lưu lại trong các viện bảo tàng! Nay ta theo các tài liệu thử làm sống lại cái cảnh Hà Nội hồi hơn 300 năm về trước. Ngày xưa muốn đến Kẻ chợ th́ phần nhiều đi đường thủy do sông Nhị Hà. Các thuyền manh của người Tàu, người Xiêm th́ thường hay do kênh đào Nam Định hoặc kênh đào Phủ Lư mà vào các thị trấn Bắc kỳ c̣n các tàu bè của người Bồ-đào-nha, Hà Lan hoặc Anh th́ lại do cửa Vạn Úc hoặc do cửa Thái B́nh mà tiến vào. Người Hà Lan thường hay cho tàu đậu, ngang làng Tiên Lăng, c̣n các tàu Anh th́ lại đi ngược lên độ ba dặm nữa và lập ở đấy một làng có nhiều dân cư đến ở. Một nhà hàng hải Anh đă từng vẽ bản đồ cửa con sông Bắc kỳ (rivière du Tunquin) tuy không được đúng như các bản đồ ngày nay nhưng cũng rất rơ ràng và các sông ng̣i từ Kẻ chợ cho ra đến bể đều có vẽ rơ, nhưng h́nh như những người ngoại quốc đến nước ta hồi đó không ai phân biệt rơ là miền trung châu Bắc kỳ do hai triều sông lập thành: triều sông Nhị Hà và triều sông Thái B́nh nên trên các bản đồ hồ đó không thấy vẽ rơ.
Theo như lời Samuel Baron trong cuốn “Description du rogaume du Tonkin” th́ Kẻ chợ về diện tích có thể so với nhiều thị trấn ở Âu châu, và lại đông dân hơn nhiều thị trấn đó, nhất là trong hai ngày mồng một và rằm mỗi tháng là ngày phiên chợ, dân các vùng lân cận và cả ở các miền xa các tỉnh đều đến để mua bán. Các đường phố hồi đó tuy phần nhiều nhỏ hẹp nhưng cũng có phố rộng răi mà đến các ngày phiên chợ cũng khó ḷng mà chen chân đi lại được. Mỗi phố bán riêng một thứ hàng hóa ǵ và ai muốn mua thứ đó th́ phải đến đó mới có. Thường mỗi phố lại chia làm hai ba khu, mỗi khu do người cùng làng làm cùng một nghề ở chẳng khác ǵ các nghiệp đoàn thợ ở các thị trấn Âu châu ngày xưa. Người ta vẫn nói Hà Nội cổ có 36 phố phường nhưng thực th́ theo các bản đồ Hà Nội ngày xưa để lại th́ h́nh như hồi đầu thế kỷ 17 chỉ có một ít phố chính như hàng Đào, hàng Gạo, hàng Chiếu, hàng Buồm, hàng Bạc, hàng Bè, hàng Tre, cầu Gỗ. Ở bờ sông th́ có cửa hàng của người Hà Lan, người Anh, chuồng voi, kho súng đạn của nhà vua, Tế kỳ đạo vv… Sông Tô Lịch hồi đó chảy phía sau thành ngang với phố Quan Thánh, phố Carnot ngày nay rồi do chỗ ngơ Gạch bây giờ (giữa hàng Chiếu, hàng Buồm) mà chảy vào sông Cái.
Các dinh thự của nhà vua, của các vơ tướng, các văn quan và các công môn đều chiếm những khoảng đất rộng.
Dinh thự của nhà nước phần nhiều làm bằng gỗ. C̣n nhà cửa của dân gian ng̣ai phố phường th́ toàn bằng phên tre và lợp gianh, rất ít thấy nhà gạch, chỉ trừ các cửa hàng của người ngọai quốc nên những nhà này nổi bật hẳn lên. Thành cổ ở quanh hoàng cung có ba lớp tường xây kiên cố, có những cửa vào lát bằng đá hoa có vẻ rất vĩ đại. Hoàng cung chu vi độ từ 6 đến 7 dặm, các cửa ngơ dinh thự và sân đều có vẻ rất nguy nga tráng lệ.
Trong cuốn “Guides Madrolle, Indochine du Nord” có nói lâu đài đó chắc là một lâu đài về thời kỳ nội thuộc Tàu c̣n lại.
Trong thành có trại lính rất rộng và kho tàng của nhà vua. Sông Nhị Hà là con đường giao thông tiện lợi nhất của chốn kinh đô với các miền trong xứ và tất cả các sản vật, hàng hóa ở các miền trong nước đều do rất nhiều thuyền bè chở đến.
adminclb is offline  
 


Điều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 10:44 PM.


Powered by: vBulletin , Jelsoft Enterprises Ltd.