Go Back   Diễn đàn nhà sách Sông Hương > CLB SÁCH XƯA & NAY > Bản tin > Bản tin số 13
Hỏi/Đáp Thành Viên Lịch T́m Kiếm Bài Trong Ngày Đánh Dấu Đă Đọc

 
 
Điều Chỉnh Xếp Bài
Old 17-06-2007, 03:35 PM   #1
adminclb
Lớp 12
 
Tham gia ngày: 27-05-2007
Bài gởi: 492
Default Cái nôi của lời nói tiếng Việt

Cái NÔI của LỜI NÓI Việt


Mỗi từ của tiếng Việt là một tiếng (một âm tiết) có một nghĩa nhầt định.Mỗi TIẾNG như vậy có gốc từ một cái TRỨNG (âm tiết của từ “tiếng” và từ “trứng” này na ná nhau), trứng đă nở ra khỏi miệng như ra khỏi cái nôi th́ cất lên thành tiếng, gọi là cất lời. LỜI là ư nghĩa của một tiếng,do kết quả của động tác NÓI của cái miệng. NÓI là phát âm ra tiếng, do nhờ hai động tác MẤP (tiếng NGẬM thuộc “ÂM”, tương ứng “0” - cặp môi đóng kín như khi phát âm số “không”) và MÁY (tiếng TOANG thuộc “DƯƠNG”, tương ứng “1” - cặp môi mở toang như khi phát âm số “một”) của cặp môi mà thành. Ghép lại thành câu th́ ta có LỜI NÓI là “ư nghĩa của tiếng phát ra” và NÓI LỜI là “phát ra tiếng có ư nghĩa”. Cái miệng Việt chính là cái NÔI ÂM DƯƠNG của người Việt để sinh ra lời Việt, cái nôi sinh ra tiếng ấy gọi là NÔI KHÁI NIỆM.Viết chữ NÔI ra ta thấy nó là h́nh tṛn của chữ Ô trong ḷng có hai con N̉NG NỎC nằm xoay ngược đầu nhau, hai con ấy đều gọi bằng tên chung là “ṇng nọc” nhưng chúng là hai con khác tính nhau, con N̉NG là cái (nên mới có “ṇng súng đẻ ra nhiều viên đạn”), con NỌC là đực (nên mới có “heo nọc nhảy heo nái”). Phía trái chữ Ô là chữ N tức phía “negative” là phía âm, phía phải chữ Ô là chữ I tức phía “innegative” là phía dương. Rơ ràng chữ NÔI ấy là cái nôi khái niệm âm dương. Liên tưởng cái h́nh tṛn trong ḷng có hai con ṇng nọc của biểu tượng âm dương ấy ta cũng c̣n thấy trên trống đồng Ngọc Lũ có tượng những đôi cóc đang trong tư thế giao hợp (để đẻ ra nhiều ṇng nọc) là ước vọng phồn thực của cư dân văn minh lúa nước. Tiếng Việt đẻ ra từ trong nôi âm dương của người Việt nên ta gọi là tiếng mẹ đẻ.
Trong cái NÔI KHÁI NIỆM ấy mỗi TIẾNG có gốc như là một cái TRỨNG, do vận động trong NÔI mà h́nh thành hàng loạt TRỨNG ĐƠN (trứng một ḷng đỏ - TIẾNG một âm tiết), những trứng đơn ấy do có âm tiết khác nhau tức là có tính đực tính cái tương đối với nhau nên hút nhau như dương với âm thành từng cặp dính nhau là những TRỨNG KÉP (trứng hai ḷng đỏ - TIẾNG hai âm tiết). Đó là những từ trong tiếng Việt - từ đơn âm và từ song âm.
Ta hăy xét ví dụ một khái niệm “nói”. “NÓI” là tiếng hay dùng ngày nay chứ gốc xa xưa ban đầu của nó là “NA” (tiếng Nhật Bản đa âm tiết th́ gọi nó là “haNAxư”, rụng mất âm tiết đầu và âm tiết cuối th́ c̣n lại NA, cũng như từ “cá” trong tiếng Việt th́ ở tiếng Nhật Bản là “xaCAna”, âm tiết CANA này c̣n trong tiếng Việt ở tên các cửa sông hay băi cá như cửa CỜN, lạch QUÈN, CẦN giờ , CẦN thơ…). Cái trứng NA này trong NÔI VIỆT đă h́nh thành nên hàng loạt trứng đơn như sau: NA-NÁ - NÉ-NẺ-NẸ - NÍ-NỈ - NÔ-NỔ-NỞ - NƯC-NẮC-NẤC-NÁT-NẠT- NỌT-NÓT- NON-NỌN-NẶN-NĂN-NĂNG-NẶNG - NỊU-NÍU - NỊNH-NỰNG - NŨNG-NỦNG-NỤNG-NÚNG - NÓNG-NÓM-NỎM -NÁI-NÁY-NẨY-NÓI-NỜI - NẰNG-NẶC - NẮN-NỦ-NẠ-NỎ-NÍN đều “na ná một ṇi” với nhau trong một khái niệm chung của NÔI KHÁI NIỆM LỚN là “nói” nhưng sắc thái của chúng th́ muôn màu. Những TRỨNG ĐƠN sinh ra trong nôi này là những TIẾNG có âm tiết khác nhau, tức mỗi TRỨNG là Đực hoặc Cái tương đối với TRỨNG kia nên chúng có thể dính được với nhau từng đôi thành những TRỨNG hai ḷng đỏ - từ song âm. Đó là: NÓI NĂNG (nói bằng nhiều cách), NĂNG NÓI (hay nói), NÓI NẲNG (nặng lời), NÓI NỰNG ( dỗ dành), NĂN NÓI (nói biết lựa lời, đă bị rụng thành –ĂN NÓI), NĂN NỈ (nói kỳ kèo, NÓI NỎ (nói vu khống - nỏ mồm), NÓI NỊU (nói nhịu giọng), NÓI NÍU (nói líu lưỡi), NÓI NÁY (nói láy), NÓI NÁI (nói lái), NÓI NÓNG (nói lóng), NÓI NUNG (nói lung tung), NÓI NÚNG (nói lúng búng), NÓI NỔ (nói khoác lác), NÓI NẺ (nói nhằm chỗ yếu của người), NÓI NÉ (nói lảng tránh), NÓI NỌN (nói bắt chẹt - bắt nọn), NÓI NÁT (nói nhát doạ), NÓI NẠT (nói lạt -mỉa mai), NÓI NỌT (nói ngọt nhạt - giải thích cặn kẽ), NẠT NỘ (nói mắng doạ), NÓI NÉ (nói tránh lảng), NÓI NẤC (nói không ra lời), NÓI NỌNG (nói không ra tiếng), NÓI NỊU (nói ngọng nghịu), NỨC NỞ (nói trong tiếng khóc), NÓI NẶN (nói đặt điều), NỎ NẸ (nói nhỏ nhẹ), NỎ NẺ (nói thỏ thẻ), NẮC NỎM (nói khen), NÓI NÓM (nói hóm hỉnh), NŨNG NỊU (nói ṿi vĩnh), NỊNH NỌT (nói ve văn), NẮC NỞ (nói nhắc nhở), NÓI NÓT (nói hót lẻo ), NÓI NỎM (nói lơm bơm), NÓI NỦNG (nói lủng hủng - hỗn hào), NỈ NON (nói khóc than văn), NA NÁ (nói giống nhau), NÓI NẺO (nói lẻo mép), NẮC NẺ (nói trong tiếng cười), NÓI NẨY (nói lẩy dỗi), NÍU NÔ (nói líu lô), NÓI NÉM (nói lém lỉnh), NẰNG NẶC (nói đ̣i cho bằng được), NẮN NỦ (nói nhắn nhủ), NỎ NÓI (không nói nữa) NÍN NÓI (không thèm nói).
NÍN (nghĩa là không nói) ngược hoàn toàn với NÓI. Lúc đầu nó cũng sinh trong NÔI của NÓI nhưng ở đầu tột cùng bên âm, sau NỎ NÓI là “út ít”, do bị con út giành mất chỗ bú, nó đă vọt ra ngoài nôi cũ để thành lập nôi mới là NÔI KHÁI NIỆM LỚN của “nín” như là một NÔI ÂM, tương đối với NÔI DƯƠNG là NÔI KHÁI NIỆM LỚN của “nói”. Trong đó NÍN lại đẻ ra nhiều TRỨNG như NỊN (nhịn), NẸM (nhẹm), NÉN, NÉP, NẰM… là muôn sắc thái của khái niệm “ngậm” (ÂM). NÔI ÂM (“nín”) ngược nghĩa với NÔI DƯƠNG (“nói”) nên nếu so hai nôi với nhau th́ sẽ có được các cặp “từ kép” NGHỊCH NGHĨA TUYỆT ĐỐI (nhưĐực/Cái),mà một tiếng là từ nôi nọ, một tiếng là từ nôi kia như NÓI/NÍN, NÉM/ NẸM, NĂN/NẰM (từ này đă bị rụng thành ĂN/NẰM và được dùng với ngụ ư là “đực/cái với nhau” tức sinh hoạt t́nh dục chứ không phải là “vừa ăn cơm vừa nằm ngủ” như có người tưởng)…
NÔI KHÁI NIỆM nào trong tiếng Việt cũng bắt đầu bằng “trứng” KHÁI NIỆM ĐẦU như là “1” đến cuối nôi là “trứng” PHỦ ĐỊNH KHÁI NIỆM ĐẦU như là “0” hoặc ngược lại. Giống như một “bit” thông tin trong tin học có hàm chứa hai giá trị xác suất là “0” hoặc “1”. Tuy nhiên trong toán nhị phân của tin học sử dụng th́ chỉ có hai con số nhị phân như hai giá trị cực đoan mà thôi, chúng chuyển đổi giá trị sang nhau bằng nhảy cóc, “0” nhảy cóc ngay thành “1” và “1” nhảy cóc ngay thành “0”. C̣n trong NÔI KHÁI NIỆM của tiếng Việt th́ tư KHÁI NIỆM ĐẦU đến PHỦ ĐỊNH KHÁI NIỆM ĐẦU là hai khái niệm cực đoan c̣n biết bao nhiêu khái niệm nữa do các TRỨNG ĐƠN và TRỨNG KÉP làm chi ly hoá khái niệm chung của NÔI. Giống như đờn bầu chỉ có một dây, khi gảy, ở cú rung đầu tiên đă thành hai, rồi c̣n rung ra bao nhiêu nữa. Do mỗi NÔI đều có một “trứng” PHỦ ĐỊNH KHÁI NIỆM ĐẦU nên trong tiếng Việt có vô vàn từ mang nghĩa là “không” (như: ỡm, ứ, bỏ, cóc, chăng, dóc, đếch, gột, hơi, không, láo, mất, nỏ, nhẵn, ngỏ, phét, quái, rỗng, sáo, toi, th́u, trống, vắng, xỏ …). Trong NÔI “nói” ở đây th́ KHÁI NIỆM



Phụ bản 4

ĐẦU là NA (tức LA – nghĩa là nói lớn tiếng) và PHỦ ĐỊNH KHÁI NIỆM ĐẦU là NỎ (không!) [NỎ là “không” trong tiếng vùng Bắc Trung Bộ này c̣n để lại trong tiếng Việt các từ BỎ (không c̣n), LỎ (không che “của quí”), NGỎ (không kín)…].
Trong tiếng Việt th́ “n”, “l”, “nh” chuyển đổi được cho nhau nên mới có NÓI - LÓI, NỜI - LỜI - NHỜI, mà “nhời ăn tiếng nói” th́ được coi là lịch sự nhất v́ là tiếng của cư dân kinh thành Thăng Long.
“LỜI” lúc đầu mới chỉ là “NỜI” trong nôi của khái niệm “nói”, trong cái trứng hai ḷng đỏ NÓI NỜI nó lớn lên dần dần, tính cái của nó càng khắc tính đực của “NÓI”, tức tiếng của có càng khác dần đi, xa dần tiếng của “NÓI”, nó muốn lớn để đi lấy chồng tức muốn mang gốc “l” của “lớn” th́ nó phải rụng cái rốn tức cái gốc “n” đi (NỜI + L = LỜI). Mang gốc “l” của “lớn” để thành “LỜI” rồi, th́ nó bị tách ra khỏi NÔI cũ ,cho đi ở riêng ngay. Nó thành lập NÔI KHÁI NIỆM LỚN của “lời” mà trong đó nó lại đẻ một đống trứng gốc “l”, diễn đạt muôn sắc thái của lời nói Việt (như LAU LÁU, LƯU LOÁT, LÀNG LẠC, LEO LẺO, LẮT LÉO, LẤC LÁO, LẢ LƠI, LÂM LI, LẤP LỬNG, LÉM LỈNH, LÍU LO, LÍ LA LÍ LẮC, LÍ LÁU, LƠ LỚ, LỎN LẺN, LU LOA, LẦM L̀…). Mà nh́n vào một cái trứng hai ḷng đỏ chẳng hạn như LẢ LƠI (nghĩa là lời ong bướm yêu đương) ta thấy rơ ngay “gen”của cụ tổ nó là NA (trong tiếng đực “LẢ”) và “gen”của mẹ nó là LỜI (trong tiếng cái “LƠI”-mà “lơi”th́ hăy c̣n non hơn “lời”). Đúng là con mẹ LỜI này đă đẻ ra cặp song sinh, một trai là LẢ ,một gái là LƠI, trăm phần trăm con nhà chứ không phải con lai , v́ chúng đă quấn quưt nhau từ khi c̣n là PHÔI ở trong BỌC NHÔI (hay “bào thai”). Đương nhiên cùng thời trong trứng hai ḷng đỏ NÓI NỜI ấy th́ “NÓI” cũng lớn dần lên, lớn lên th́ “NÓI” tách ra đi lấy con gái họ “g” để thành GỌI (NÓI + G = GỌI), lập nôi riêng là NÔI KHÁI NIÊM LỚN “gọi” (trong đó sinh biết bao nhiêu trứng như GỌI, GÁY, GÙ GH̀, GẦM GỪ, GÀO, GẠ GẪM, GẮT GỎNG…) rồi mà nó vẫn c̣n gọi nhớ em “NỜI” (!)

Lê Duy Dân
Trích từ “Qui luật nhị phân trong bọc trứng tiếng Việt”
của Lê Duy Dân , số : 424/2003/QTG
adminclb is offline  
 


Điều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 06:59 PM.


Powered by: vBulletin , Jelsoft Enterprises Ltd.