CUỘC BIẾN HÓA CỦA CHỮ QUỐC NGỮ TRONG HƠN 300 NĂM TỪ KHI MỚI CÓ ĐẾN NGÀY NAY

Chiều hôm 29 Mai 1941, lễ khánh thành bia kỷ niệm cố A-lịch-sơn-đắc-lộ (Alexandre de Rhodes) đă cử hành một cách long trọng do Toàn quyền Đông Dương chủ tọa và có một số đông nam, nữ học sinh các trường sơ-học Hà nội cùng các trẻ em theo học các lớp của Hội truyền bá quốc ngữ dự vào. Cố A-lịch-sơn-đắc-lộ là người như thế nào? Ai đă là người Nam biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ tưởng đều phải nên biết qua tiểu sử vị cố đạo đó đă sang truyền giáo ở nước ta hồi đầu thế kỷ thứ 17 trong khi chúa Nguyễn và chúa Trịnh chia nhau phạm vi thế-lực ở nước ta và trải bao nhiêu đời, vẫn tranh nhau ngôi bá chủ gây nên một cuộc binh lửa kéo dài hàng trăm năm không dứt.

Tuy cố de Rhodes không phải là người đầu tiên đă nghĩ ra cách diễn chữ La tinh và đặt ra thứ chữ Quốc ngữ ngày nay, rất thông dụng trong khắp nước ta nhưng tất cả các nhà sử học đă để tâm nghiên cứu đến nguồn gốc chữ Quốc ngữ đều phải công nhận cố de Rhodes là người rất có công trong việc sửa chữa đặt ra mẹo luật và truyền bá thứ chữ rất dễ đọc, dễ biết, đă giúp cho dân Việt Nam chúng ta ngày nay có thể đọc sách, đọc báo và diễn đạt một cách nhanh chóng, rơ ràng những ư nghĩ và tư tưởng trên mặt giấy. Cố de Rhodes lại là người thứ nhất đă in ra sách bằng chữ Quốc ngữ. Hai cuốn Giáo lư quốc âm (catéchisme) và Tự điển tiếng Nam bằng ba thứ chữ Quốc ngữ, Bồ-đào-nha và La tinh hiện ngày nay vẫn rất có giá trị đều xuất bản năm 1651 ấn hành tại nhà in in được nhiều thứ tiếng của Ṭa Thánh lập ra từ năm 1627, dưới đời Giáo hoàng Urbain VIII. Trước những sách của cố de Rhodes, chữ quốc-ngữ tuy đă có nhưng ta rất ít được trông thấy. Trong một cuốn sách thuật lại cuộc hành tŕnh sang Viễn đông và thời kỳ lưu lại ở nước ta của cố Borri là một trong những vị cố đạo đă để chân tới nước Nam trước nhất in ra năm 1631, cũng đă thấy có nhắc đến một vài câu viết bằng chữ Quốc ngữ tức như câu “Con guo muon bau tlom loam hoa-lan chiam?”. Nay ta thử đem thứ chữ Quốc ngữ lúc mới ra đời của cố Borri và cố Alexandre de Rhodes mà so sánh với thứ chữ Quốc ngữ trong cuốn tự vị của đức cha Bá-đa-lộc do cố Taberd đă xuất bản ở (Ấn-độ) Sérampor năm 1838 và chữ quốc ngữ ngày nay, th́ ta sẽ thấy rơ hơn trong 300 năm vừa qua chữ quốc-ngữ đă thay đổi và cách viết chữ quốc-ngữ đă biến hóa như thế nào. Lúc đầu mới có Quốc ngữ đều viết theo vần của tiếng Bồ-đào-nha v́ hồi đó người ngoại quốc đến nước ta hoặc là giáo-sĩ hoặc là nhà buôn phần nhiều là người Bồ-đào-nha, nên trong việc giao-thiệp của người Nam với người ngọai quốc đều dùng tiếng Bồ-đào-nha. Ta lại nên biết Bồ-đào-nha về thế kỷ 17 là một nước rất cường thịnh, sự buôn bán và công cuộc thực dân rất mở mang đến nỗi Ṭa thánh La mă phải dành cho các giáo sĩ Bồ-đào-nha cái độc quyền truyền đạo Gia-tô tại phương Đông. V́ thế mà các giáo sĩ thứ nhất đặt chân đến nước ta đều là người Bồ-đào-nha. Việc diễn Quốc ngữ ra chữ La tinh theo
vần Bồ-đào-nha là một chứng cớ về thế lực của người Bồ-đào-nha lúc đó. Đến hồi cố de Rhodes th́ chữ Quốc ngữ đă giống với thứ chữ của ta dùng ngày nay hơn nhiều, nhưng cũng c̣n nhiều chữ chưa có. Trong các sách của cố de Rhodes như cuốn Giáo lư quốc âm ta thấy thiếu hẳn hai chữ “ơ” và “ô” cố de Rhodes đă dùng chữ “â” và “o” có thêm dấu ở trên thay vào, c̣n chữ “â” ngày nay th́ lại dùng chữ “ê” thay vào. C̣n chữ “v” th́ là chữ “b” có đánh dấu ngoặc. Ta lại thấy c̣n thiếu nhiều vần như vần “iêu” th́ hồi đó cố de Rhodes viết “êo”, vần “ông” th́ viết “óũ” có dấu ngă trên chữ “u”, h́nh như lúc đó chữ “u” có dẫu ngă thay cho chữ “ng”, ta đă thấy cố Borri dùng chữ “a” có dấu ngă để thay cho “ng” như trong chữ “chia” có dấu ngă trên chữ “a” ở câu nói trên này. Ta lại nên nhận bằng chữ “s” lúc đó viết khác hẳn ngày nay đó là chữ “f” mà gạch ngang không sang quá bên kia nét dọc như ta thấy trong cuốn “Giáo lư” của cố de Rhodes. C̣n chữ “blời” th́ ngày nay là chữ “trời” vần “bl” lúc đó ngày nay là vần “tr”. Trong cuốn này ta lại nhận thấy cố de Rhodes không những rất giỏi tiếng Nam mà lại biết nhiều chữ Nho v́ cố thường dùng đến luôn những thành ngữ như “quân tử”, “thế gian”, “phú quư” vv…

Sau cố de Rhodes chắc có nhiều vị giáo sĩ ngọai quốc và người Nam sửa đổi lại chữ quốc ngữ dần dần măi cho đến hồi Đức cha Bá-đa-lộc (Evêque d’Adran) ở ta vào hồi đầu thế kỷ 19, theo như cuốn tự vị của Đức cha đă ấn hành năm 1838 th́ chữ Quốc ngữ đă giống hẳn với chữ Quốc ngữ ngày nay, cũng có đủ dấu đủ chữ, đủ vần, và không phải dùng những chữ thêm dấu vào như hồi cố Alexandre de Rhodes nữa.
Ta nên nhận rơ trong khoảng từ 1651 cho đến 1888 tất cả 178 năm mà ta không được thấy một cuốn sách nào bằng chữ quốc ngữ in ra, có lẽ những cuốn sách kinh của đạo Gia-tô th́ có nhưng ta không được đọc, c̣n phần nhiều các thư từ giấy má của các giáo sĩ th́ cũng ít người được xem đến. Theo như lời chú thích của M. Charles Maybon tác giả cuốn “Histoire d’Annam” th́ cố L. Cadière đă từng nói rằng theo sự khảo sát về các giấy má chưa xuất bản được và hiện để ở điện Vatican th́ chữ Quốc ngữ theo lối dùng ngày nay là một công cuộc hoàn toàn của người Pháp. Có lẽ cố Cadière nói thế là v́ hai người có công đầu trong việc sửa đổi cho chữ Quốc ngữ được hoàn toàn là cố de Rhodes và Đức cha Bá-đa-lộc đều là người Pháp và nhất là lối chữ Quốc ngữ thông dụng ngày nay th́ lại càng rơ rệt là công cuộc của người Pháp.
Về việc này chúng tôi chỉ thuật lại một ư kiến chứ không phê b́nh v́ đó là việc của các nhà khảo cổ muốn nói cho chính xác cần phải có nhiều tài liệu mà chúng ta hiện nay không thể có được. Kết luận bài này chúng tôi chỉ nói theo lời ông Nguyễn Văn Tố trong bài diễn văn đọc nhân ngày lễ khánh thành bia kỷ niệm cha de Rhodes “việc lập thành chữ quốc ngữ không phải là công cuộc của một người và có thể làm xong trong một lúc”. Thực thế, từ lúc các cố đạo Bồ-đào-nha phát minh ra cách diễn tiếng ta bằng chữ La-tinh cho đến nay đă có hơn 300 năm lẻ, chữ Quốc ngữ đă qua bao nhiêu thời kỳ thay đổi và chắc từ nay về sau c̣n thay đổi nhiều lần nữa. Có được lối chữ Quốc ngữ thông dụng khắp nước và rất tiện lợi dễ học như ngày nay, không những chúng ta phải nhớ cố de Rhodes, Đức cha Bá-đa-lộc mà c̣n phải tỏ ḷng biết ơn đối với bao nhiêu bậc vô danh khác cũng rất có công trong việc phát minh và sửa đổi dần dần chữ Quốc ngữ của ta.

H.K.T.