Khu hoàng cung

Khu Hoàng cung về hồi cuối Lê hiện nay không c̣n di tích ǵ có thể dựa vào đó để khảo cứu. Khu hoàng cung hồi đó mà người ta cho là khu trong thành ngày nay chắc cũng không được đúng. Theo những thư từ của các giáo sĩ vẽ hồi đó th́ Kẻ chợ là một thị trấn (marché) như cảm tưởng của Baron và cố Amaral đă nói trong một bức thư gửi từ Kẻ chợ năm 1638. Trong bức thư này có nói: “Kẻ chợ giống như là nơi tạm đóng của một nhà vua luôn luôn phải dự vào chiến tranh, khi có cuộc phiến loạn th́ thành bị thiêu đốt đến lúc thái b́nh lại xây dựng lại”. V́ thế mà các lâu đài không xây bằng đá cho được bền vững đời đời mà chỉ làm bằng gạch hoặc nhiều hơn nữa bằng gỗ. Và trong thành chỉ là cung vua Lê, c̣n phủ chúa Trịnh th́ lại ở ngọai thành (có nhà cho là ở khu cuối đường Roliandes gần cửa Nam ngày nay). Theo một bức thư của cố Baidinotti viết ngày 12 Novembre 1626 th́ “kinh đô không có thành và pháo đài. Nhà cửa th́ trừ Hoàng cung lợp ngói và xây bằng đá trạm trổ công phu phần nhiều đều làm bằng tre”.

Ngày 2 Juillet 1627 cố Alexandre de Rhodes mới đến Hà Nội th́ cố được một nhà buôn hiệu là Mậu Tài dành cho một ngôi nhà gạch để ở và tiếp khách cùng giảng đạo. V́ nhà đó hẹp quá nên các cố đạo xin với Chúa Trịnh Tráng để ở nơi khác, chúa định làm một các nhà ngay trong thành cho các cố đạo ở, nhưng v́ ở trong thành th́ ít người dám vào không tiện cho việc giảng đạo nên các cố đạo từ chối. Chúa lại thể ḷng các giáo sĩ làm một ṭa nhà gạch ở gần thành để làm trụ sở cho các giáo sĩ. Ṭa nhà này một nửa đổi làm nhà thờ có lẽ ở vào phía trên bờ sông Tô Lịch trong khu từ thành đến các phố buôn bán.

Khu các phố buôn bán.
Theo lời cố Baldinotti năm 1626 th́ “các nhà cửa ở Kẻ chợ phần nhiều đều lợp tranh và không có cửa sổ. Trong thành phố có những hồ, ao lớn nên khi có hỏa họan th́ dễ dập tắt được. Có nạn hỏa tai thiêu hết đến 5, 6 ngàn nóc nhà nhưng sau đó độ 4, 5 hôm th́ lại làm lại cả rồi”.
Tuy vậy nhà cửa Annam hồi đó, theo lời M. Giuron đă nghiên cứu kỹ về vấn đề này, cũng là những ngôi nhà xây dựng một cách cẩn thận và có mỹ thuật.
“Đó là những ngôi nhà vững bền, truyền từ đời này sang đời khác chứ không phải là những túp lều. Trong các nhà Annnam người ta thấy rơ một kiểu mẫu và các ư muốn xây dựng một cái ǵ bền vững và dễ coi”.
Theo như thiếu tá Rivière đă viết và đă thuật lại trong cuốn “Hanoi pendant la période héroique” của Masson th́ “ở phía Đông và Đông Nam hoàng thành, một khu rất yên tĩnh và như ngủ say ở sau những bức tường cao kiên cố khu các phố buôn bán lại khác hẳn là nơi đô hội rất tấp nập, lộn xộn, ồn ào, khu này là một h́nh tam giác mà bề dài dựa vào hồ Gươm và hai cạnh dựa vào sông Nhị Hà và Hoàng thành”.
Về quang cảnh các đường phố ở khu buôn bán th́ ta hăy đọc đọan sau này: “các phố không lát gạch hoặc đá. Cứ hễ giời hơi mưa xuống th́ ngoài đường đầy những bùn lầy sâu hàng mấy tấc lẫn với những rác bẩn mà các nhà hàng phố đổ ra ngay giữa đường. Các nhà ở bên đường phố th́ lớn nhỏ không đều và cái thụt vào cái nhô ra nên trông phố chẳng khác ǵ những cạnh góc liên tiếp nhau.
Mái nhà gianh sà xuống rất thấp và phía cửa trông ra đường thường chỉ là một cái rèm ngày chống đêm sập. Dưới cái rèm che mưa nắng đó, các nàh buôn đă bày hàng ngồi bán”.
Khu buôn bán ở Hà Nội ngày xưa, lại có tường gạch hoặc rào nứa tre ngăn làm nhiều khu nhỏ hơn đêm đến có cửa đóng, trời tối th́ không thể đi từ phố này sang phố khác được. Trong các đường phố hẹp ḥi, bẩn thỉu và quanh co đó ngày thường đă rất đông, đến ngày phiên chợ th́ lại đông gấp đôi.
Ở Kẻ chợ hồi đó có ba cái nhà thờ nhỏ của đạo Gia-tô trong các phố buôn bán. Cố Alexandre de Rhodes ở Hà Nội hai lần: lần thứ nhất tư 2 Juillet 1627 cho đến cuối tháng Mars 1629 và lần thứ hai từ Novembre 1629 đến Mai 1630, tất cả 18 tháng. Hồi cuối Mars 1629 cố A. de Rhodes cùng với cố Marquès bị Trịnh Tráng trục xuất và phải đi thuyền của chúa cấp cho do đường thủy vào tạm ẩn ở Hàm Rồng là nơi của hai nhà giáo sĩ đă đi qua hai năm về trước và tạm lập một nơi giảng đạo. Hai cố ở đây 8 tháng rồi lại cùng mấy người Bồ-đào-nha nữa trở ra Kẻ chợ. Đến Mai 1630, cố Alexandre de Rhodes và cố Marquès lại bị trục xuất lần thứ hai khỏi xứ Bắc kỳ và sau đó cố de Rhodes không có dịp trở lại Kẻ chợ nữa.
Sau 10 năm ở Tàu, đến Février 1640, cố de Rhodes lại trở lại Nam kỳ, ở dưới quyền chúa Nguyễn hồi đó là Cung Thượng Vương. Ở được 5 năm, đến 1645, cố de Rhodes bị kết án tử h́nh rồi lại được chúa Nguyễn ân xá và đến 3 Juillet 1645 th́ bị trục xuất. Từ đó, cố de Rhodes không bao giờ lại nước Nam là nơi tuy phải từ giă nhưng ḷng cố th́ bao giờ cũng vẫn nghĩ tới.
Đến 1651, cố de Rhodes về La Mă đă xuất bản nhiều sách vở về nước Nam nhất là hai cuốn “Histoire du royaume du Tonquin” và “Divers voyages” ngoài cuốn sách kinh xuất bản bằng Quốc ngữ và chữ La tinh. Ta xét qua quang cảnh Hà Nội về hồi đầu thế kỷ 17, hơn 300 năm về trước th́ ta thấy rơ rằng về hồi đó vua Lê th́ không có quyền, chúa Trịnh lại luôn luôn bận về việc đánh nhau với chúa Nguyễn ở bên kia dăy núi Hoành sơn nên không có thời giờ nghĩ đến việc các công cuộc tô điểm cho chốn kinh đô. V́ thế mà Hà Nội trải hơn 200 năm từ lúc cố de Rhodes bắt đầu sang tới Bắc kỳ 1627 cho đến lúc quân Pháp chinh phục đất Bắc (1873-1883) không những vẫn nguyên quang cảnh cũ, mà nhiều đền đài dinh thự về triều Lê sang đến triều Nguyễn lại c̣n bị tàn phá thêm là khác.
Chúng ta là những kẻ hậu sinh mỗi khi đi qua các khu Hà thành mà nay c̣n lưu lại những di tích hoặc những kỷ niệm về thời xưa như Văn Miếu, Tháp Báo Thiên, Chùa Quan Thánh, vv… ai là người không phải động ḷng hoài cổ.

HỒNG LÂM & VĂN H̉E