(tt)
Suy tư của cha Alexandre de Rhodes làm nổi bật ư tưởng của vị thừa sai khôn ngoan, biết phân biệt giữa đ̣i buộc chính yếu của Phúc Âm và lợi ích riêng tư của Âu Châu. Nhưng phải đợi đến 40 năm sau, 1659, nghĩa là một năm trước khi từ trần, cha Alexandre mới trông thấy phương pháp truyền giáo của ḿnh được Ṭa Thánh chính thức công nhận. Trong văn thư gửi các Giám Mục tiên khởi của Hội Thừa Sai Paris, Bộ Truyền Giáo Các Dân Tộc viết:
... “Đừng mất công thuyết phục các dân tộc Á Châu phải từ bỏ các lễ nghi và tập tục của họ. Không ǵ ngu xuẩn cho bằng, muốn biến đổi người Trung Hoa thành người của một quốc gia Châu Âu nào đó! Đừng t́m cách đưa các tập tục của chúng ta vào xứ sở của họ, nhưng chỉ đưa vào đó Đức Tin. Đức Tin không hề xua trừ cũng không làm tổn thương các nghi lễ cùng các tập tục, miễn là các tập tục và nghi lễ này không quá xấu xa”.
2. LINH MỤC ALEXANDRE DE RHODES, “GIÁO SĨ ĐẮC-LỘ”, THỪA SAI TẠI VIỆT-NAM.
Sau 6 năm giảng đạo tại Goa và Macao, v́ thời cuộc biến chuyển, Bề Trên lại chỉ định cha Alexandre de Rhodes đi Việt Nam.
Đầu năm 1625, cha Alexandre cùng với 4 cha ḍng Tên khác và một tín hữu Nhật-Bản, cập bến Hội-An, gần Đà-Nẵng. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Thầy dạy tiếng Việt cho cha là một thiếu niên trạc tuổi 10-12. Đây là một cậu bé thông minh. Cha Đắc-Lộ vô cùng mộ mến khi nói về vị thầy tí hon:
“Chỉ trong ṿng 3 tuần lễ, chú bé đă dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có một kiến thức ǵ về ngôn ngữ Châu Âu, thế mà, cũng trong ṿng 3 tuần lễ này, cậu đă có thể hiểu được tất cả những ǵ tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời, cậu học đọc học viết tiếng La-tinh và đă có thể giúp lễ. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu bé. Sau đó, cậu trở thành thày giảng giúp việc các cha truyền giáo và là một dụng cụ tông đồ hữu hiệu trong việc loan báo Tin Mừng nơi quê hương Việt Nam thân yêu của thày và nơi vương quốc Lào láng giềng”.
Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha Alexandre de Rhodes, tức giáo sĩ Đắc-Lộ. Tuy nhiên, duyên nợ của cha đối với quê hương Việt-Nam, không xuôi chảy và vẹn toàn. Cuộc đời truyền giáo thật bấp bênh và vô cùng trôi nổi. Trong ṿng 20 năm, cha bị trục xuất đến 6 lần. Nhưng sau cả 6 lần ấy, cha đều t́m cách trở lại Việt Nam khi cơ hội cho phép. Sau này, khi vĩnh viễn từ biệt Việt Nam, cha đau đớn thú nhận:
-“Trái tim tôi vẫn c̣n ở lại nơi đó!”. Chính t́nh yêu đặc biệt cha dành cho Việt Nam đă giải thích cho sự thành công của cha, trong lănh vực truyền đạo cũng như trong lănh vực ngôn ngữ, văn hóa.
Thời gian cha Đắc-Lộ giảng đạo tại Việt Nam cũng là thời kỳ các cha thừa sai ḍng Tên hoạt động rất hăng say và hữu hiệu. Riêng cha Đắc-Lộ, cha đă truyền đạo từ Nam ra Bắc. Cha kể lại công cuộc truyền giáo tại Bắc Phần:
“Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Bắc Kỳ, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuốn đến nghe tôi giảng đạo đông đến nỗi, tôi phải giảng đến 4 hoặc 6 lần trong một ngày. Chị vua và 17 người thân trong gia đ́nh vua xin lănh nhận bí tích Rửa Tội. Nhiều tướng lănh và binh sĩ cũng xin theo đạo. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là thấy các vị sư đă mau mắn từ bỏ bụt thần để theo đạo Công Giáo. Tất cả đều dễ dàng chấp nhận khi tôi giải thích cho họ hiểu giáo lư đạo Công Giáo rất phù hợp với lư trí và lương tâm con người. Các tín hữu Công Giáo Việt Nam có Đức Tin vững chắc đến độ, không ǵ có thể rút Đức Tin ra khỏi ḷng họ. Nhiều người phải đi bộ suốt 15 ngày đường để được xưng tội hoặc tham dự thánh lễ.. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi không thể chu toàn cách tốt đẹp mọi công tác truyền đạo này, nếu không có trợ giúp tuyệt vời của các thầy giảng. V́ nhận thấy ḿnh là linh mục duy nhất giữa một cánh đồng truyền đạo bao la, nên tôi chọn trong số các tín hữu, những thanh niên không lập gia đ́nh và có ḷng đạo đức sâu xa cũng như có nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng, để giúp tôi. Những người này công khai thề hứa sẽ dâng hiến cuộc đời để phụng sự Chúa, phục vụ Giáo Hội, sẽ không lập gia đ́nh và sẽ vâng lời các cha thừa sai đến Việt Nam truyền đạo. Hiện tại có tất cả 100 thày giảng đang được thụ huấn trong chủng viện và được các tín hữu trang trải mọi phí tổn”.
Nhưng rồi, cha Đắc-Lộ không được ở măi nơi quê hương Việt Nam cha hằng yêu mến. Năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Khi trở lại Âu Châu, cha Đắc-Lộ vận dụng mọi khả năng hiểu biết về công cuộc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu, đă xin Ṭa Thánh gửi các Giám Mục truyền giáo đến Á Châu, để các ngài có thể truyền chức linh mục cho các thày giảng bản xứ. Có thể trong thời kỳ này, những bài giảng thuyết hùng hồn của cha Đắc-Lộ nơi đất Pháp đă gây chấn động mạnh trong tâm hồn các tín hữu Công Giáo Pháp và đă gợi hứng cho việc thành lập Hội Thừa Sai Paris.
3. CHA ALEXANDRE DE RHODES, GIÁO SĨ ĐẮC-LỘ, VỊ KHAI SINH CHỮ QUỐC-NGỮ.
Năm 1651, chữ Quốc-Ngữ do cha Alexandre de Rhodes, giáo sĩ Đắc-Lộ, cưu mang, đă chính thức ra đời tại nhà in Vatican. Đó là cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA.
Năm 1961, nhân dịp cử hành 300 năm ngày qua đời của cha Đắc-Lộ, nguyệt san “MISSI”, do các cha Ḍng Tên người Pháp điều khiển, đă dành trọn số tháng 5 để tưởng niệm và ca tụng Cha Đắc-Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ nói chung và của Giáo Hội Công giáo Việt Nam nói riêng. Cha Đắc-Lộ qua đời ngày 5-11-1660, tại thành phố Ispahan, bên Ba-Tư, tức là sau 15 năm bị trục xuất khỏi Việt Nam.
Nguyệt san “MISSI” nói về công tŕnh khai sinh chữ Quốc-Ngữ với tựa đề: “Khi cho Việt-Nam các mẫu tự La-tinh, cha Alexandre de Rhodes đă đưa Việt-Nam đi trước đến 3 thế kỷ”.
Tiếp đến, tờ MISSI viết:
Khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc-Ngữ, cha Alexandre de Rhodes đă giải phóng nước Việt Nam.
Thật vậy, giống như Nhật-Bản và Triều-Tiên, người Việt-Nam luôn luôn xử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ v́ chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều-Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. C̣n người Nhật th́, sau nhiều lần thử nghiệm, đă phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng h́nh biểu ư của người Tàu.
Trong khi đó, người Tàu của Mao-Trạch-Đông đang t́m cách dùng các mẫu tự La-tinh để chế biến ra chữ viết của ḿnh, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công.. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre de Rhodes Đắc-Lộ, đă tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ!.
Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng ḿnh cha Đắc-Lộ khởi xướng ra chữ Quốc-Ngữ. Trước đó, các cha thừa sai ḍng Tên người Bồ-Đào-Nha ở Macao đă nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La-tinh rồi. Tuy nhiên, cha Đắc-Lộ là người đưa công tŕnh chế biến chữ Quốc-Ngữ đến chỗ kết thúc vĩnh viễn và thành công, ngay từ năm 1651, là năm cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA, chào đời. Đây cũng là năm sinh chính thức của chữ Quốc-Ngữ. Và cuộc khai sinh diễn ra tại Roma, nơi nhà in Vatican. Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của ḿnh.
Đă từ lâu đời, người Việt Nam viết bằng chữ Tàu, hoặc bằng chữ Nôm, do họ sáng chế ra. Nhưng đa số người Việt Nam không thể đọc và viết được chữ Tàu, v́ theo lời cha Đắc-Lộ, Tàu có đến 80 ngàn chữ viết khác nhau. Các nhà truyền giáo đầu tiên khi đến Việt Nam, đă bắt đầu dùng mẫu tự La-tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Khi cha Đắc-Lộ đến Việt Nam, đă có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La-tinh rồi. V́ thế, có thể nói rằng, công tŕnh sáng tạo ra chữ Quốc-Ngữ trước tiên là một công tŕnh chung của các nhà thừa sai tại Việt Nam. Nhưng khi chính thức in ra công tŕnh khảo cứu chữ viết tiếng Việt của ḿnh, là cùng lúc, cha Đắc-Lộ đă khai sinh ra chữ viết này, ban đầu được các nhà truyền giáo xử dụng, sau đó, được toàn thể dân Việt-Nam dùng và biến nó thành chữ quốc ngữ. Tất cả các nước thuộc miền Viễn Đông từ đó ước ao được có chữ viết cho quốc gia ḿnh y như chữ Quốc-Ngữ này vậy!.
Trên đây là phần trích dẫn từ nguyệt san “MISSI”. Về phần cha Đắc-Lộ, chính cha đă viết về ngôn ngữ của một dân tộc mà cha rất mộ mến như sau:
... “Khi tôi vừa đến Nam Kỳ và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng ḿnh đang nghe chim hót líu lo, và tôi đâm ra ngă ḷng, v́ nghĩ rằng, có lẽ không bao giờ ḿnh học nói được một ngôn ngữ như thế!. Thêm vào đó, tôi thấy hai cha Emmanuel Fernandez và Buzomi, khi giảng, phải có người thông dịch lại. Chỉ có cha Francois Pina là hiểu và nói được tiếng Việt, nên các bài giảng của cha Pina thường đem lại nhiều lợi ích hơn là của hai cha Fernandez và Buzomi. Do đó tôi tự ép buộc ḿnh phải dồn mọi khả năng để học cho được tiếng Việt. Mỗi ngày tôi chăm chỉ học tiếng Việt y như ngày xưa tôi học môn thần học ở Roma. Và nhờ ơn Chúa giúp, chỉ trong ṿng 4 tháng, tôi học biết đủ tiếng Việt để có thể giải tội và sau 6 tháng, tôi có thể giảng được bằng tiếng Việt. Kết quả các bài giảng bằng tiếng Việt lợi ích nhiều hơn các bài giảng phải có người thông dịch lại”.
(“MISSI”, Mai/1961, trang 147-173).