+ Trả Lời Đề Tài
kết quả từ 1 tới 3 trên 3

Đề tài: Giới thiệu nhà thơ tiền chiến Phan Văn Dật

  1. #1
    Tham gia ngày
    20-08-2007
    Bài gởi
    488
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Giới thiệu nhà thơ tiền chiến Phan Văn Dật

    Giới thiệu nhà thơ tiền chiến Phan Văn Dật

    Phan Văn Dật (1907-1987), bút hiệu: Tiêu Lang, Thường Nga Phố; sinh ngày 17 tháng 8 năm 1907 [1] tại phủ An Thường công chúa ở xóm Xuân An, làng Phú Xuân (nay là phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế). Tuy nhiên, chánh quán của ông th́ ở làng Đạo Đầu, xă Triệu Trung huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

    Thân phụ ông là Thị độc đại học sĩ Phan Văn Dư, cháu nội nhiều đời của Đô thông hậu quân Phan Văn Thúy (một bộ tướng của chúa Nguyễn Ánh) và An Thường công chúa (con vua Minh Mạng).

    Xuất thân trong một gia đ́nh có họ ngoại với hoàng tộc, có nhiều người làm quan vơ, nhưng Phan Văn Dật lại yêu thích nghiệp văn, rất có thể v́ ông chịu ảnh hưởng từ cha (Thị độc đại học sĩ) và hai cậu (nhà văn Trần Thanh Mại và nhà văn Trần Thanh Địch).

    Thuở nhỏ, Phan Văn Dật theo học chữ Hán, lớn lên mới theo học chữ quốc ngữ tại Trường Quốc Học Huế.

    Năm 1927, ông tốt nghiệp bằng Thành chung, v́ gia cảnh phải thôi học vào làm thư kư tại Sở Trước bạ Đà Nẵng.

    Năm 1939, ông về lại Huế làm ở Nha Ngân khố Trung Kỳ, rồi trải qua các sở: Sở Văn hóa, Nha Thông tin, Sở Ngân chánh Huế, đồng thời dạy học tại Trường Nữ học Đồng Khánh và Trường Quốc Học Huế.

    Năm 1951, ông làm Chủ sự Pḥng Trước bạ Huế. Tháng 11 năm này, ông được cử đi tu nghiệp ở Trường Trước bạ quốc gia Lyon, Pháp cho đến tháng 5năm 1952.

    Năm 1959, ông được biệt phái sang Viện Đại học Huế, năm sau được cử làm Giảng viên Viện Hán học, sau kiêm cả chức vụ Giám học cho đến năm 1963.
    Năm 1964, ông về hưu nhưng vẫn tiếp tục dạy giờ tại các trường Cao đẳng Mỹ thuật, Nông Lâm Súc, trường Bách khoa B́nh dân và Trung học tư thục Đào Duy Từ.

    Phan Văn Dật mất tại Huế vào ngày 11 tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 80 tuổi, sau hơn mười năm rời bục giảng và cũng c̣n viết lách ǵ được nữa.

    Tác phẩm của Phan Văn Dật, gồm:
    •Bâng Khuâng (thơ, 1935)
    •Diễm Dương trang (tiểu thuyết, giải thưởng Tự lực văn đoàn năm 1935)
    •Những ngày vàng lụa (thơ, chỉ đăng rải rác ở các báo, ở trong các sách hợp tuyển, chưa in).

    Bên cạnh đó, ông c̣n nhiều bài viết đăng trên các báo: Nam Phong tạp chí, Thực nghiệp dân báo, Thần Kinh tạp chí, Tràng An, tạp chí Khuyến học, Rạng Đông, Cười... Ngoài ra, ông c̣n để lại một số công tŕnh nghiên cứu và dịch thuật khi Viện Đại học Huế mời ông giảng dạy và tham gia việc biên soạn sử liệu.

    *
    Phan Văn Dật là một người rất mê đọc sách báo, ngay từ 6 tuổi, ông đă biết để dành tiền mua chúng. Năm 1924, lúc 14 tuổi, ông bắt đầu sáng tác và có thơ văn đăng báo.

    Tháng 12 năm 1935, Hoài Thanh và Hoài Chân có viết một bài về quyển thơ Bâng khuâng của ông trên báo Tràng An, sau được trích in lại trong quyển Thi nhân Việt Nam. Cùng năm này, tiểu thuyết Diễm Dương trang của ông được giải thưởng của Tự lực văn đoàn, và bài viết Nghệ thuật và nhân sinh của ông đăng trên tạp chí Khuyến học tại Hà Nội số ra ngày 15 tháng 12 năm 1935. Bài viết trên ngay sau đó đă bị báo chí thời bấy giờ lên tiếng phê phán và liệt ông vào phái “ nghệ thuật vị nghệ thuật” bên cạnh Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều...Và cũng chính v́ theo khuynh hướng này, nên thơ ông thường đa sầu, hoài cổ và mộng mơ.

    Nhận xét về tập thơ Bâng Khuâng, Hoài Thanh và Hoài Chân viết:
    ...Nguyễn Nhược Pháp với tập "Ngày xưa" đă nh́n vào cảnh vật xưa bằng con mắt một người thời nay, Phan Văn Dật với tập "Bâng khuâng" đă nh́n cảnh vật ngày nay sau bức màn một tâm hồn xưa...Giữa cuộc đời náo động, người ngoảnh mặt làm ngơ và tự tạo cho ḿnh một thế giới riêng, một thế giới lặng lẽ đầy mơ mộng...
    Tôi không hay hưởng cùng cái hiện tại.
    Hững hờ, tôi thường để nó đi qua.
    Chuyện ngày nay sau tôi sẽ xót xa,
    Tôi chỉ tiếc những giờ không trở lại.
    ...Nói cho đúng, thi nhân chẳng phải hoàn toàn sống trong cảnh xưa cảnh mộng và cái thế giới chung quanh tuyệt không có trong con mắt thi nhân. Người cũng biết say v́ cảnh đẹp thoáng qua trước mắt. Có lúc bỗng sực nhớ ḿnh là một trai trẻ đương tuổi yêu, nghệ sĩ nắn mấy vần thơ:
    Ca ngợi t́nh yêu, vẻ đẹp em,
    Lời thơ réo rắt tôi săn t́m.
    Cậy người mang tặng cho em đọc,
    Em để vào ngăn em chẳng xem.
    ...Thơ Phan Văn Dật không rực rỡ không réo rắt, không hùng tráng, không làm tha bồi hồi ngây ngất, nhưng vẫn khiến ta ưa đọc: nó là những vần thơ dễ thương. Ta không cảm phục mà ta lưu luyến, cũng như ta lưu luyến đất Kinh đô là nơi quê hương của thi nhân
    ...[2]

    Nh́n chung, thơ Phan Văn Dật ít tả cảnh mà thiên về t́nh, cái t́nh hoài niệm ấy lại thường gửi gắm qua một câu chuyện tự sự. Ở ông không có những cảm xúc cháy lên như Xuân Diệu, cũng không phải là một tiếng thơ gợi lại những ǵ mộc mạc, thôn dă kiểu Nguyễn Bính, mà là thứ t́nh cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những ǵ đă qua đi không trở lại... Phan Văn Dật sớm tiếp thu cổ văn Trung Quốc và văn học cổ điển Pháp, lại ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ, nhưng ông vẫn neo chặt ng̣i bút của ḿnh vào khuôn phép đạo đức truyền thống, tuy không quá cổ hủ song cũng không dám buông thả...Điều đó, không chỉ thể hiện trong nội dung thơ, mà nó c̣n biểu hiện phần nào ở thi pháp nghệ thuật của ông. Đa phần thơ ông làm theo lối thất ngôn, ngũ ngôn của Đường luật, lục bát và song thất lục bát chứ chưa dám bước sang ranh giới của lối thơ phá thể, thơ tự do…

    Xét về văn, Diễm Dương trang là tác phẩm văn duy nhất của Phan Văn Dật, được viết vào khoảng thời gian ông vào làm việc tại Sở Trước bạ Đà Nẵng, cho nên bối cảnh được tác giả đưa vào truyện chủ yếu tại băi biển Mỹ Khê nằm cách Đà Nẵng không xa. Nội dung Diễm Dương trang kể về mối t́nh của anh thư kư Ṭa sứ với các cô gái nhà khá giả như Dinh, Nga...

    Đề cập đến tác phẩm này, Từ điển Văn học (bộ mới) viết:
    Tuy kết cấu c̣n đơn giản, nhưng tác giả đă biết dẫn dắt cốt truyện theo một tŕnh tự thời gian đảo ngược giữa hiện tại và quá khứ một cách khá hiện đại. Đặc biệt, văn chương hết sức óng chuốt, không thua bất cứ nột tác phẩm văn xuôi nào thời bấy giờ....Qua "Diễm Dương trang", chứng tỏ ngoài thơ, ông c̣n là một cây bút văn xuôi tinh tế, nhạy cảm, và không thiếu phần sắc sảo...[3]
    Tiểu thuyết Diễm Dương trang đă được Tự lực văn đoàn xét tặng giải thưởng năm 1935.

  2. #2
    Tham gia ngày
    20-08-2007
    Bài gởi
    488
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default

    Giới thiệu thơ Phan Văn Dật

    Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân đă tuyển giới thiệu ba bài thơ (đều ở trong tập Bâng khuâng, và đều được viết năm 1927) của ông, đó là: Tiễn đưa, Bi Xuân Nương Nàng con gái học Dương.
    Trong Thi nhân tiền chiến (quyển hạ) của Nguyễn Tấn Long, có cả thảy 18 bài thơ của ông. Ngoại trừ bài Chiều mưa trên mộ địaT́nh suông ở trong tập Bâng khuâng, số bài c̣n lại đều ở trong tập Những ngày vàng lụa, chưa xuất bản. Ở đây trích giới thiệu 4 bài đều ở trong tập thơ chưa in này:

    Cho địa chỉ
    Nhà anh có bến Đợi Chờ,
    Có đ́nh dựa nguyệt, có thơ nhớ Nàng.
    Xuân về có gió đông sang,
    Thu qua có cảnh lá vàng rụng bay.
    Lâm tuyền có thú đổi thay,
    Có đêm huyền hoặc, có ngày nhớ nhung.
    Có giàn hoa lư bên song,
    Có con đường sỏi đi ṿng giếng thơi.
    Món quê qua quả có thời,
    Tháng giêng có hạnh, tháng mười có cam.
    Có khi ngồi ngắm trên am,
    Mây hồng dựng sớm, sương lam tỏa chiếu.
    Hư thân có măi cái nghèo,
    Tùy ḷng ai có muốn theo th́ về.
    (Những ngày vàng lụa)

    T́nh quê
    Đường lau khuất khuất quanh quanh,
    So le hoa dại đôi cành thờ ơ.
    Chiều hôm đứng lặng như mơ,
    Có cô áo nhuộm đang chờ đợi ai?
    Tay lần nếp áo chưa phai,
    Thẹn điều vụng nghĩ ửng hai má hồng.
    Mày say vẽ nét cong cong,
    T́nh xuân chớm dậy nghe ḷng tỉ tê.
    (Những ngày vàng lụa)

    Kỷ niệm
    Ai hay gh́ được cái thời gian?
    Gọi lại vài giây những mộng tàn?
    Hay được vùi sâu ngày dĩ văng,
    Cùng bao phai rụng dưới tâm can.

    Đời lặng lờ đem ta đến đâu?
    Sông ḷng diệu vợi nước nông sâu?
    Phong trần áo ngả màu mưa nắng,
    Lệ tủi tài hoa hoen má nâu!

    Mây giạt về đâu bốn phía trời?
    C̣n đây hương ngụy buổi đôi mươi?
    Phôi pha bến nguyệt thề nhung lụa,
    Bướm trắng đà bay mộng thắm rời!

    T́nh gửi vào đây một chút thơ ,
    Rồi đây giấy úa chữ lu mờ;
    Khóc cười thành bại ḷng ta cũng
    Thêm với thời gian vết gió mưa.
    (Những ngày vàng lụa)

    Như đă nói trên, thơ ông thường là “thứ t́nh cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những ǵ đă qua đi không trở lại…”. Mặc dù vậy, cũng có đôi ba bài mang âm hưởng hào hùng theo phong cách thơ tráng ca buổi ấy, thí dụ như ở bài:
    Tráng sĩ hành

    Ra đi! Ghềnh suối hăy chờ ta!
    Muôn dặm trùng san tái ngoại xa!
    Gươm báu reo vang ngời máu giận,
    Đất trời say ngất khí can qua!

    Ra đi! Ngựa thét nhớ hơi ngàn,
    Thác lũ sườn non trăng ải quan,
    Cất gió khinh thường sa mạc vắng,
    Quê nhà đem dọi quẩy lên an.

    Cơm áo ra chi đời chật hẹp!
    Trần ai mấy mặt dám xông pha!
    Ra khi! Rượu nóng khà trăm chén,
    Dập tắt sầu thương chỗ xó nhà.

    Hào kiệt trắng cương vùi cát bụi,
    Há mềm nước mắt khóe thu ba?
    Ra đi! C̣n đợi chờ chi nữa?
    Tây lũng ba canh rộn tiếng gà.

    Ḷng gởi bốn phương chồn bước rảo,
    Vui ǵ chăn gối uổng niên hoa!
    Ra đi cho biết mùi sương gió,
    Tắm gội mưa mai quái nắng tà.

    Rượu tỉnh khôn xua sầu vạn cổ!
    Anh hùng sao được mấy thân già?
    Phi thường ai biết ai tri kỷ?
    Mùi thế chau mày khổ hận đa!...

    Một tiếng pháo ran bày thế trận,
    Cờ bay phất phất tới lui qua.
    Gươm thiêng vút mạnh đầu tuôn rụng,
    Trống giục rền mây sát khí ḷa.

    Tràng tiến ba quân giành thủ cấp,
    Biền mâu trùng điệp chớp kim sa.
    Một hồi chiêng gióng khao quân sĩ,
    Ngang chiếc Long Toàn khảng khái ca.

    Quạnh quẽ đêm dài lùa gió lạnh,
    Hồn ai than khóc băi tha ma?
    Tung hoành chi sá niềm khăn yếm,
    Thề chốn sa trường tóc bạc pha!

    Vó ngựa hề lên an,
    Quay tít gươm hề rượt gió ngàn,
    Ra đi hôm nay hề không ngoái lại,
    Một sớm tranh hùng hề phá giặc tan!
    (Những ngày vàng lụa)

    Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
    Long Xuyên, ngày 2 tháng 12 năm 2009.

    Chú thích:
    1.Chép theo Từ điển Văn học (bộ mới, tr. 1399). Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Tấn Long giải thích thêm: Thi nhân Việt Nam ghi ông Dật sinh ngày 17 tháng 8 năm 1909 là không chính xác. Là v́ thuở nhỏ ông theo học Hán văn, đến khi vào trường Quốc học Huế th́ hơi quá tuổi nên gia đ́nh phải khai trụt xuống. (Thi nhân tiền chiến [quyển hạ]. Nxb Sống Mới, 1968, tr.113).
    2.Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (1932-1941). Nxb Văn học in lại 1988, tr. 312.
    3.Lược theo Phạm Phú Phong, mục từ Phan Văn Dật in trong Từ điển Văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, tr. 1400-1401.

  3. #3
    Tham gia ngày
    20-08-2007
    Bài gởi
    488
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Giới thiệu thêm một bài thơ trong tập Bâng khuâng

    Nàng con gái họ Dương

    Năm xưa tại lại chốn này
    Hồ thu nước mới chau mày với thu.
    Nàng Dương mười bốn hai dâu,
    Hoa non đâu đă biết sầu v́ thu.

    Năm sau ta đến chốn này,
    Nàng Dương tóc đă đến ngày cày trăm.
    Chiều xuân hoen hoẻn trăng rằm,
    Con ong lén gửi thơ thầm ngoài hiên.
    Qua năm ta lại chốn này,
    Ngựa xe chen bước dấu giày in sân.
    Pḥng khuê cửa đóng mấy tầng,
    Chim xanh mỏi cánh mấy lần về không.
    Rồi năm ta lại chốn này,
    Nàng Dương mở cửa suốt ngày đợi tin.
    Thềm ba khách vắng rêu in,
    Cành hoa năm ngoái ai vin năm này?
    Năm nay ta lại chốn này,
    Lầu không chim vắng, chim bay đằng nào?
    Hỏi người có tiếng tăm hao,
    Láng giềng rằng có cô nào đâu đây?

    29 tháng 10 năm 1927
    (Bâng khuâng)

+ Trả Lời Đề Tài

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts