+ Trả Lời Đề Tài
kết quả từ 1 tới 1 trên 1

Đề tài: Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca

  1. #1
    Tham gia ngày
    27-05-2007
    Bài gởi
    491
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca

    VIỆT SỬ DIỄN NGHĨA TỨ TỰ CA


    Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hữu Vinh phiên dịch
    Nguyễn Hữu Vinh chuyển nhập ra bản điện tử
    Ngày 26 tháng 11 năm 2006
    Fonts: HANNOM A, HANNOM B
    Bản gơ: HannomIME

    Đây là bài ca viết về một quăng dài lịch sử hơn 1000 năm từ thời vua Đế Minh là cháu Đạm Đế Thần Nông thứ ba cho đến khoảng thời gian đức Thế Tổ của triều đ́nh nhà ta lên ngôi. Nay chọn những chuyện lớn viết thành diễn ca cho đàn bà con trẻ biết được đôi điều, càng nhiều càng tốt, để khỏi làm tṛ cười cho thiên hạ v́ không biết chuyện tổ tiên. Dù rằng đă gắng công cố sức sửa sai, thêm bớt nhưng sợ vẫn c̣n nhiều sai lầm, sơ sót. Mong người đọc lượng thứ cho.

    Kính tŕnh lên để xem xét

    Thái Tử Thiếu Bảo Hiệp Tá Đạo Học Sĩ quản lĩnh Học Bộ Thượng Thư kiêm Lễ bộ Sự Vụ Quốc Sử Quán Tổng Tài kiêm Quốc Tử Giám sung Cơ Mật Viện đại thần Khánh Mỹ Tử Tín Trai Hồ Tướng Công.

    Phê:

    Lời văn đơn giản nhưng đầy đủ chi tiết, đây là một việc làm có công lớn đối với lịch sử nước Việt của bậc vương giả.

    Tháng giêng năm Khải Định thứ sáu.
    Hường Nhung, tự Tiêu Khanh, Tuy Lư Quận Công nhậm chức Hữu Tham Tri bộ Lễ, sung chức Tả Tôn Khanh của Tôn Nhân Phủ.
    Hường Thiết , tự Lục Khanh, con thứ 18 của Tuy Lư Vương, Công Bộ Thị Lang, Kiêm chức Nghị viên của hội Vệ Sinh.

    Cùng diễn dịch.

    1. Người nước Nam ta, Phải coi sử Việt, Cùng đầu đến đuôi, Chuyện chi cho biết
    5. Từ họ Hồng Bàng, Làm Kinh Dương Vương,Vốn ḍng Viêm Đế, Phong tại nam phương
    9. Con là Lạc Long, Cháu là Hùng Vương, Từ ấy hiệu nước, Gọi là Văn Lang
    13. Truyền mười tám đời, Đều xưng Hùng Vương, Đặng hai ngh́n sáu, Hăm hai năm trường
    17. Thục An Dương Vương, Diệt nước Văn Lang, Xưng rằng Âu Lạc, Nối họ Hồng Bàng
    21. Vua Thục lúc ấy, xây đắp Loa thành, xây lên bổ xuống, ai nấy đều kinh
    25. Vua Thục khấn vái, Thiên địa thấn linh, Bỗng thấy một người, Kim Quy hiện h́nh
    29. Nói cùng Vua Thục, Sự tích rành rành, Trong núi Thất Diệu, Nhiều loài yêu tinh
    33. Oan hồn uất kết, nên nỗi hoành hành, Xin phải trừ đi, Mới xây đặng thành
    37. Vua Thục nghe theo, Nửa tháng thành rồi, Khi ấy Kim Quy, Từ biệt xin lui
    41. Vua Thục nói lại, Nhờ ông đến đây, Trăm điều an ổn, C̣n ngại chút này
    45. Thành tŕ nhà nước, Nay đă vững vàng, Mai sau có giặc, Lấy chi dẹp loàn
    49. Kim Quy nghe nói, Cho một móng chân, Nhắn đem làm ná, Linh động khôn ngần
    53. Bắn ra một phát, Giết giặc muôn thằng, Gọi là thần nỏ, Ai địch cho bằng
    57. Tần nghe cơi Nam, Rất nhiều châu ngọc, Bèn sai Triệu Đà, Đem quân đánh Thục
    61. Thục có thần nỏ, Đà địch đâu qua, Quân Triệu cùng khốn, Đà xin giảng ḥa
    65. Cho con Trọng Thủy, Đến hỏi Mỵ Châu, Trọng Thủy khôn khéo, Thục Vương gả cho
    69. Trọng Thủy thừa cơ, Coi máy thần nỏ, Mỵ Châu tin chàng, Cho chàng coi ngó
    73. Không hay Trọng Thủy, Rắp sẵn mưu gian, Coi qua ngó lại, Đổi móng rùa vàng
    77. Nói cùng Mỵ Châu, Về thăm cha mẹ, Ḷng toan đánh Thục, Mưu sâu t́nh tệ
    81. Giả đ̣ yêu dấu, Nghĩ trước suy sau, Một mai ly loạn, Biết nàng ở đâu
    85. Mỗi người một xứ, Ruột héo ḷng đau, Vợ chồng cách trở, Đời nào thấy nhau
    89. Mỵ Châu thưa rằng, Thiệp có nệm lông, Đem theo bên ḿnh, Há dám tiếc công
    93. Thiếp đi đường nào, Bỏ ra đường ấy, Chàng đă có ḷng, Trước sau cũng thấy
    97. Trọng Thủy về đến, Quân Triệu kéo sang, Vua Thục cười nói, Triệu Đà cả gan
    101. Không hay thần nỏ, Máy đă mất đi, Đem quân ra đánh, Thua chạy tức th́
    105. Vua Thục chẳng biết, Rể xảo con ngu, Tin dùng Trong Thủy,Yêu dấu Mỵ Châu
    109. Đến chừng nguy hiểm, Cầu cứu Kim Quy, Kim Quy ra nói, Giặc tại cô này,
    113. Mỵ Châu than thở, Trọng Thủy gian khi, Thục Vương biết đặng, Tuốt gươm giết ngay
    117. Quân Triệu thừa thắng, Kéo đến liền ngày, Vua Thục thua chạy, Bèn diệt Thục đi
    121. Triệu Vơ đế Đà, Gồm nước Âu Lạc. Truyền đặng năm đời, Triệu suy Hán diệt
    125. Người Hán từ ấy, Quận huyện nước ta, Sai quan cai trị, Tô Định gian tà
    129. Người xứ An Minh, Trưng Trắc Trưng Nhị, Tuy rằng nữ nhi, Thiệt là tài trí
    133. Phục thù khởi nghĩa, Đuổi Tô Định về, Giao Châu một cơi, Thâu phục sơn khê
    137. Hán sai Mă Viện, Kéo thẳng binh qua, Đánh cùng Trưng Vương, Lại lấy đất ta
    141. Trưng Vương em chị, Tuẫn nạn một nhà, Xưa nay trung nghĩa, Tiếng lành đồn xa
    145. Mă Viện đánh rồi, Bèn dựng đồng trụ, Lấy đất Nam giao, Giới hạn tới đó
    149. Đến sau Sĩ Nhiếp, Qua trấn Giao Châu, Mở mang văn vận, Từ ấy làm đầu,
    153. Thương dân dạy vẽ, Lễ nghĩa văn chương, Dân đều yêu kính, Tôn rằng Sĩ Vương
    157. Nam Giao bờ cơi, Từ Hán đến Lương, Thuộc vào Trung Quốc, Biết mấy năm trường
    161. Người nước Nam ta, Có ông Lư Bí (Bôn), Sinh xứ Thái B́nh, Đa tài đa trí
    165. Lương sai Bá Tiên, Đánh cùng Lư Bí, Tô Lịch Gia Ninh, Lương đều hơn Lư
    169. Lư đ̣i Quang Phục, Giao cho binh quyền, Lui về Liêu Động, Tỵ nạn một phen
    173. Ông Triệu Quang Phục, Đặng móng rồng vàng, Đánh đâu hơn đó, Xưng Triệu Việt Vương
    177. Sau Lư Phật Tử, Đánh Triệu không xong, Cho con làm rể, Trộm lấy móng rồng
    181. Quân Lư kéo đến, Cùng Triệu giao phong, Triệu Vương thua chạy, nhảy xuống biển đông
    185. Phật Tử diệt Triệu, Đô tại Phong Châu, Tùy sai Lưu Phương, Họa phúc đỗ cùng
    189. Vua tôi Phật Tử, Đều ra chịu đầu, Nam Giao bờ cơi, Về Tùy tóm thâu
    193. Đến Đường Cao Tôn, Cải hiệu An Nam, Đặt quan đô hộ, Lắm kẻ bạo tham
    197. Truyền tới Đức Tôn, Đô hộ Chánh B́nh, Gian ngoan hà khắc, Tàn hại sanh linh
    201. Người xứ Đường Lâm, Tên là Phùng Hưng, Gia tư hào phú, Trí dũng ai bằng
    205. Dấy binh vây thành, Giết tên Chánh B́nh, Thu phục Xích huyện,Tế độ thương sinh
    209. Giàu sang dáy (nháy) mắt, Giấc bướm mơ vàng, Phùng An truy tôn, Bố Cái Đại Vương
    213. Phùng An nối nghiệp, Nghe theo Triệu Xương, Nói điều lợi hại, Từ ấy đầu Đường
    217. Đường Chiêu Tuyên Đế, Hồng Châu Khúc Hạo, Tự xưng Tiết Độ, Nam Hán thông hiếu
    221. Đường Lâm Ngô Quyền, Thừa khi đương loạn, Dấy binh phục thù, Giết tên Công Tiện
    225. Nam Hán Lưu Cung, Sai con Hoằng Tháo, Từ sông Bạch Đằng, đem binh đến cứu
    229. Ngô Quyền phá Hán, Tự xưng Ngô Vương, Ở ngôi sáu năm, Một giấc hoàng lương
    233. Di chúc em vợ, tên là Tam Kha, Tam Kha tiếm vị, Xương Ngập trốn xa
    237. Khá khen Xương Văn, Đánh đuổi Tam Kha, Bèn rước anh về, Cùng trị nước nhà
    241. Xương Văn ra đánh, Đường Nguyễn Thái B́nh, Nửa đêm trúng tên, Hoăng tại trong doanh
    245. Từ ấy phiên trấn, Chiếm cứ phân vân, Trước sau mười hai, Đều xưng sứ quân
    249. Ông Đinh Bộ Lĩnh, Người xứ Hoa Lư, Hiệu rằng Vạn Thắng, Trí dũng có dư
    253. Dẹp yên các trấn, Sắp đặt trăm quan, Nước xưng Cồ Việt, Đô đóng Trường An
    257. Đinh Hoàng bị thí, Đinh Toàn nổi lên, Chỉn có hai đời, Đặng mười ba năm
    261. Tướng quân Lê Hoàng, Tư thông Dương thị, Quân Tống sang xâm, Lê Hoàng tức vị
    265. Lê đặng nối Đinh, Bởi v́ Dương Hậu, Bất nghĩa bất trung, Muôn năm c̣n xấu
    269. Đại hành băng tồ, Trung Tôn tức vị, Mới đặng ba ngày, Ngọa triều nghịch thí
    273. Ngọa Triều gian xảo, Tàn bạo tính thành, Đao sơn kiếm thụ, Bày đặt nghiêm h́nh
    277. Thí nghịch soán đoạt, Lên ngôi bốn năm, Say mê tửu sắc, Bịnh nặng chết liền
    281. Con là Lê Sạ, Tuổi nhỏ tài hèn, Các quan bèn rước, Công Uẩn tôn lên
    285. Lư tổ tức vị, Kiến nguyên Thuận Thiên, Suốt mười tám năm, Ngoài lặng trong yên
    289. Thái tôn thủ thành, Hữu đễ rất hiền, Anh em phản nghịch, Ân Pháp vẹn toàn
    293. Đến đời Anh Tôn, Phụ Chánh Hiến Thành, Một ḷng trung nghĩa,Chẳng khác Khổng Minh
    297. Truyền đến Huệ Tôn, Không có con trai, Con gái Chiêu Hoàng, Thừa thống nối ngôi
    301. Có tên Trần Cảnh, Lịch sự lạ dường, Vào hầu Chiêu Hoàng, Chiêu Hoàng rất thương
    305. Thủ Độ bày mưu, Chiêu Hoàng nhường vị, Trần Cảnh lên ngôi, Trần bèn nối Lư
    309. Thái Tôn Thánh Tôn, Truyền đến Nhân Tôn, Ba đời thịnh trị, Phẳng lặng ngoài trong
    313. Nguyên sai đại tướng, Tên là Thoát Hoan, Đến hăm kinh thành, Từ xứ Bắc Giang
    317. Tôn thần trung nghĩa, Hưng Đạo Đại Vương, Bạch Đằng một trận, Phá giặc tan hoang
    321. Từ Trần Thái Tôn, Đến Trần Thiếu Đế, Thiếu Đế thơ ngây, Quư Ly soán vị
    325. Trần mười hai vua, Trăm bảy dư niên, Hậu Trần hai vua, Bảy năm mất liền
    329. Quư Ly soán Trần, Nước hiệu Đại Ngu, Truyền ngôi Hán Thương, Ǵn giữ cơ đồ
    333. Cha con Quư Ly, Lên ngôi sáu năm, Đánh cùng Trương Phụ, Đều bị sinh cầm
    337. An Nam một cơi, Từ ấy về Minh, Quan Minh tham bạo, Dân bất liêu sinh
    341. Lam Sơn Lê Lợi, Bèn dấy nghĩa binh, Thương hại dân ta, Đánh đuổi quan Minh
    345. Gian nguy trăm trận, Thu phục hai kinh, Mười năm b́nh định, Bốn bể trừng thanh
    349. Thái Tôn nối trị, Tánh vốn thông minh, Hiềm v́ mê sắc, Nên nỗi thương sinh
    353. Nhân Tôn xung ẩu, Thái hậu thùy liêm, Nghi Dân làm loạn, Vào thành nửa đêm
    357. Nhân Tôn ngộ hại, Nghi Dân tiếm lên, Triều đ́nh tôi cũ, Giết hại liền liền
    361. Lê Xí Đinh Liệt, Xướng nghĩa phế ngay, Bèn rước Gia Vương, Tôn lên liền ngày
    365. Thánh Tôn tức vị, Ǵn giữ mối giềng, Ở ngôi trí trị, Ba tám năm trường
    369. Sử xưng minh chủ, Tài đức khác thường, Ví cùng Trung Quốc, Vơ Đế Văn hoàng
    373. Hiến Tôn Túc Tôn, Truyền đến Qủy Vương, Tin dùng ngoại thích, Tàn hại trung lương
    377. Ông Nguyễn Văn Lang, Cùng ông Giản Tu, Đem quân tam phủ, Ra đánh Đông đô
    381. Quỷ Vương tự vẫn, Trư Vương nối lên, Ở ngôi tám năm, Duy Sản thí liền
    385. Chiêu Tôn tức vị, Đăng Dung lộng quyền, Ḷng toan soán đoạt, Chiêu Tôn ưu phiền
    389. Nửa đêm xa giá, Qua xứ Sơn Tây, Đăng Dung không kể, Chẳng rước vua về
    393. Lập hoàng đệ Xuân, Tại tỉnh Hải Dương, Chiêu Tôn về Kinh, Đăng Dung cướp ngang
    397. Chiêu Tôn thua chạy, Trịnh Tuy cứu giá, Nghe sàm giết hại, Trịnh Tuy tướng tá

    (c̣n tiếp)
    thay đổi nội dung bởi: adminclb, 28-05-2007 lúc 10:37 AM

+ Trả Lời Đề Tài

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts