SÁCH VÀNG, SÁCH BẠC, SÁCH ĐỒNG


Ngày nay chúng ta chỉ thường đọc sách làm bằng giấy. Ít ai biết được rằng tại Việt Nam, dưới triều Nguyễn (1802-1945), c̣n có những loại sách đúc bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, hoặc thêu dệt bằng gấm. Triều đ́nh nhà Nguyễn đă làm cho các loại sách này với nội dung chữ nghĩa dùng để tôn phong các vị đế vương hoặc ban tặng cho các thành viên được sủng ái trong hoàng gia và hoàng tộc. Ở Huế, hiện nay c̣n bảo lưu được một số ít sách như vậy.
Nếu dùng từ Hán-Việt để chỉ th́ phải gọi là kim sách, ngân sách, đồng sách, thể sách.
Kim sách: sách đúc bằng vàng
Ngân sách: sách đúc bằng bạc
Đồng sách: sách đúc bằng đồng
Thể sách: sách làm bằng lụa với lụa gấm thêu chỉ màu.
Nội dung các sách này rất ngắn, gọn và súc tích, chứ không dài như những quyển sách bằng giấy mà chúng ta thường đọc. Ngoài tờ b́a trước và tờ b́a sau, sách dày nhất là 7 tờ ruột và sách mỏng nhất là 3 tờ ruột. Mỗi trang chỉ có 5 ḍng. Những tờ ruột dùng để chuyển tải nội dung bằng cách đúc ch́m các chữ hoặc viết các chữ. Nội dung các chữ nghĩa đó được gọi là “sách văn”. Các tờ sách bằng kim loại (vàng, bạc, đồng) được đóng lại với nhau bằng 4 dây khuyên, tức là 4 ṿng tṛn nhỏ bằng cùng chất liệu.
Các tờ của “thể sách” th́ được đóng lại với nhau bằng chỉ. Về h́nh thức bên ngoài, các sách cùng loại có thể giống nhau ít nhiều, nhưng nội dung bên trong th́ mỗi quyển mỗi khác. Lư do cũng đơn giản mỗi quyển dùng để phong hoặc tặng cho một cá nhân riêng biệt. Các loại sách này không phải được xuất bản hàng loạt và tính số lượng theo lối “tirage” hiện nay. Mỗi quyển là một “xuất bản phẩm” duy nhất.
V́ là sách quư cho nên mỗi quyển được bảo quản bên trong một cái hộp (hoặc ḥm) bằng kim loại vàng bạc hoặc bằng gỗ sơn son.
Tùy theo từng hạng đối tượng được tôn phong hoặc ban tặng, triều đ́nh nhà Nguyễn đă ấn định chất liệu, kích thước và quy cách làm 2 loại “kim sách” và “ngân sách” như sau:

- Sách của vua : Sách làm 9 tờ bằng vàng 10 tuổi: 3 tờ b́a trước sau khắc rồng mây, 7 tờ ruột khắc bài sách văn. Sách dài 6 tấc 3 phân, rộng 3 tấc 6 phân, dầy 2 ly (1 tấc tương đương 4cm; 1 phân tương đương 4mm; 1 ly tương đương 0,4mm). Cả 9 tờ được đóng lại với nhau bằng 4 dây khuyên tṛn bằng vàng. Hộp đựng sách làm bằng bạc. Bên ngoài c̣n có một hộp gỗ sơn đỏ mà 4 góc bịt và bộ khóa đều làm bằng vàng. Riêng về bề dài của sách, từ thời Thiệu Trị (1841-1847), nó được quy định là 6 tấc 7 phân.

- Sách của hoàng hậu: Sách có 6 tờ bằng vàng 10 tuổi. Hai tờ b́a khắc rồng mây, 4 tờ ruột khắc bài sách văn. Sách dài 5 tấc 5 phân , rộng 5 tấc 5 phân, dày 2 ly. Bốn dây khuyên tṛn bằng vàng. Sách được đựng trong hộp bằng bạc. Bốn mặt chung quanh và mặt trên của nắp đều khắc rồng mây. Hộp này c̣n được đựng trong một hộp gỗ sơn son.
- Sách của hoàng thái hậu (mẹ vua): Sách có 5 tờ bằng vàng 10 tuổi. Hai tờ b́a khắc rồng mây, 3 tờ giữa khắc bài sách văn. Sách dài 6 tấc 3 phân 4 ly, rộng 3 tấc 5 phân 1 ly, dày 2 ly. Các chi tiết khác giống sách của hoàng hậu.

- Sách của hoàng thái tử (con trai sẽ nối ngôi): Sách làm bằng vàng 10 tuổi, có 5 tờ. Dài 5 tấc 6 phân 6 ly, rộng 3 tấc 2 phân 4 ly, dày 2 ly. Các chi tiết khác giống sách của hoàng hậu.

- Sách của vua thờ ở Thế Miếu và Hưng Miếu: Sách có 9 tờ bằng vàng 10 tuổi. Hai tờ b́a khắc rồng mây, 7 tờ ruột khắc bài sách văn. Sách dài 6 tấc 3 phân 4 ly, rộng 3 tấc 5 phân 1 ly, dày 1 ly. Bốn dây khuyên tṛn bằng vàng. Sách được đựng trong hộp bằng bạc mà bốn mặt chung quanh và mặt trên đều khắc h́nh tứ linh (long, lân, quy, phụng). Nó c̣n được đựng trong một hộp gỗ sơn son chân khắc chữ triện và 4 góc bịt bạc.

Ngoài ra, c̣n có các loại sách vàng khác, như sách của hoàng hậu thờ ở Thế Miếu và Hưng Miếu, sách của chúa thờ ở Thái Miếu và Triệu Miếu; sách của vợ các chúa thờ ở Thái Miếu và Triệu miếu. Về sách bạc, có các loại: sách của hoàng tử hoàng thân được phong tước Công; sách của Quốc công; sách của Quận công; sách của công chúa; sách của các phi, tần vv...
Như vậy, tùy theo địa vị và chức tước của người được tôn phong hoặc ban tặng mà sách làm bằng vàng hay bạc, cỡ lớn hay nhỏ, dày hay mỏng, đựng trong hộp bằng kim loại hay bằng gỗ, hoặc cả hai loại hộp.
Có một điều đáng ngạc nhiên là trong các bộ sử lớn của triều Nguyễn như Đại Nam Thực Lục, Khâm Định Đại Nam Hội điển Sự Lệ, Minh Mạng Chính Yếu... đều chỉ thấy nói đến kim sách và ngân sách, chứ không hề đề cập đến đồng sách và thể sách. Trong khi đó th́ hiện nay ở Huế c̣n lại một số thuộc hai loại sách này, cụ thể là tại Bảo Tàng Cổ Vật (Musée Khải Định cũ) và tại Điện Ḥa Khiêm trong lăng Tự Đức. Một số hậu duệ của các vua chúa nhà Nguyễn cho biết rằng vua Tự Đức đă cho thu hồi rất nhiều kim sách và ngân sách để có tiền trả chiến phí 4 triệu đồng cho Pháp và Tây Ban Nha chiếu theo hiệp ước Nhâm Tuất kư ngày 5-6-1862; và nhà vua đă cho “tái cấp” bằng đồng sách và thể sách.
Dù sao, trên đây cũng chỉ là những nét đại cương về h́nh thức của các loại sách ấy. Để thấy rơ hơn về giá trị lịch sử của chúng, chúng tôi xin nêu ra nội dung một vài quyển kim sách.
Như đă thấy, kim sách là loại cao cấp nhất trong các loại sách nói trên. Nó chỉ dành riêng cho hàng vua chúa, các hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng thái tử. Chẳng hạn, khi một vị vua lên ngôi, triều đ́nh cho đúc một quyển kim sách và khắc bài sách văn do triều đ́nh biên soạn để tôn phong vị tân quân. Các vua triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều đă được triều đ́nh dâng lên sách vàng trong dịp lễ đăng quang.
Ở đây, chỉ xin nêu ra nội dung của quyển kim sách mà triều đ́nh đă dâng lên cho vua Gia Long trong ngày nhà vua chính thức lên ngôi ở Hoàng Thành Huế vào ngày 28-6-1806. Bộ sử Đại Nam Thực Lục ghi rằng:

“Đúng ngày, đặt nghi vệ đại triều ở điện Thái Ḥa. Bầy tôi dâng sách vàng lên. Lời sách nói: “Bọn thần trộm nghe: Có đức tốt của thánh nhân, tất được ngôi báu của thánh nhân; đứng ngôi chính trong thiên hạ, tất được tiếng rạng của thiên hạ... Lớn thay nước Việt, đóng ở phương Nam. Nền khai thác tự tiên vương mở rộng, công đức chúa góp như trời không cùng; mối gây dựng do liệt thánh siêng năng, ơn trạch sâu dày ở người nhớ măi. Nhiều phúc tổ để lại từ trước, lên ngôi vua gặp lúc vận hay. Kính nghĩ Vương thượng bệ hạ, anh hùng quán cổ, trí dũng hơn đời. Buổi sấm mây vượt bước gian truân, nên nghiệp lớn thương dân đánh giặc; cơn gió chớp ra tay uy vơ, kiêm khó khăn sáng nghiệp trung hưng. Búa cờ họp được công to; chuông giá không rời vật cũ. Nhất thống cả bờ cơi nước Việt, ngợi ca chầu yết theo về; nhật nguyệt lại sáng tỏ giữa trời. Xă tắc thần người có chủ. Ức triệu dân cùng đều nhờ cậy; hai ba lần bày tỏ cầu xin. Nhưng Thánh thượng nhún nhường, đức rồng thua khiêm tốn; duy thần dân kính mến, vẻ hùm vẫn ngóng trông. Thấy ngôi cả đă đúng điềm, nền đại đồng vừa nhịp tốt. Bọn thần kính cẩn phụng sách dâng tôn hiệu Hoàng đế, cúi mong: ngôi Bắc thần yên chốn, sao Tử vi sáng soi, để nhận tiếng khen to, định yên phúc cả. Đức tốt rộng dày cao sáng, ví trời đất không cùng; nghiệp lớn yên vững lâu dài, trải bao đời c̣n măi”. (Vua Gia Long có tất cả 13 người con trai (hoàng tử) và 18 người con gái (hoàng nữ). Trừ 2 người con trai chết sớm (chưa có vợ con) là hoàng tử Tuấn và Thuận An Công, số hoàng tử c̣n lại là 11 người, trong số đó, hoàng tử Đảm được chọn lên nối ngôi, niên hiệu là Minh Mạng).
Dưới thời Minh Mạng, có một quyển kim sách mang một nội dung đặc biệt. Đó là dịp nhà vua làm bài thơ “Đế hệ thi” và 10 bài “Phiên hệ thi” theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt để đặt chữ lót sẵn cho 20 thế hệ con cháu thuộc ḍng chính của ḿnh và thuộc 10 ḍng phụ (phiên hệ) của 10 anh em trai của nhà vua. Vào năm 1823, vua Minh Mạng đă cho đúc một quyển kim sách để khắc bài “Đế hệ thi” và 10 quyển ngân sách để khắc 10 bài “Phiên hệ thi”. Hai mươi mỹ tự trong bài “Đế hệ thi” đă được nhà vua chọn lựa và chép thành 4 câu thơ như sau:

Miên Hồng Ưng Bảo Vĩnh
Bảo Quư Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương

Măi đến năm 1942, nhà lưu trữ cổ tự họa người Pháp Paul Boudet thấy ở kho tàng trong Hoàng cung Huế c̣n bảo lưu được 26 quyển kim sách. Chúng được trân tàng trong các tủ niêm phong. Nhưng ông đă may mắn được phép đọc và cho biết rằng đó là những kim sách được h́nh thành trong dịp lễ đăng quang của các vua Gia Long, Thiệu trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, và trong những dịp tôn phong các hoàng hậu hoặc các hoàng tử.
Với một số nét khái quát về h́nh thức và nội dung của các loại sách như vừa tŕnh bày trên đây, chúng mang những giá trị nhất định về các phương diện lịch sử, văn hóa, nghệ thuật vv...
Nhưng, có một điều đáng tiếc là kể từ khi triều Nguyễn cáo chung (1945), Huế đă trải qua nhiều biến động chính trị và các cuộc chiến tranh liên tiếp trong ngót 30 năm, phần lớn các cổ vật quư hiếm ấy; nhất là kim sách và ngân sách, không c̣n có mặt tại cố đô này nữa. Chẳng hay chúng đă bị nấu chảy thành vàng khối hay đang lưu lạc phương nào?

Bùi Đẹp (st)
(Bài này rút trong tập “Di sản thế giới”)