PDA

View Full Version : Paulus Huỳnh Tịnh Của biên soạn pho Đại Nham QUốc Âm tự vị...


adminclb
29-05-2007, 10:03 PM
PAULUS HUỲNH TỊNH CỦA BIÊN SOẠN PHO ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM
Trần Văn Cảnh
(trích trang Văn Hóa, giáo xứ Việt Nam tại Paris)
1. PAULUS HUỲNH TỊNH CỦA VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP VĂN HÓA CỦA ÔNG
Huỳnh Tịnh Của là nguời công giáo, có tên thánh là Paulus, nên thuờng đuợc gọi là Paulus Của, hay Huỳnh Tịnh Paulus Của, hay Paulus Huỳnh tịnh Của. Ông sinh năm 1834 tại làng Phuớc Thọ, Huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa, nay là Phuớc Tuy, Nam phần, và mất năm 1907. Ông có tên hiệu là Tịnh Trai.
Đuợc gởi đi du học truờng công giáo ở Pulo-Pénang, Mă Lai. Paulus Huỳnh Tịnh Của tinh thông cả Hán Văn và Pháp Văn. Năm 1861, ông đuợc bổ nhiệm Đốc phủ sứ, làm Giám đốc ty phiên dịch văn án ở Soái phủ Sài G̣n. Sau này ông thay Trương Vĩnh Kư làm chủ bút tờ công báo quốc ngữ Gia Định Báo trong một thời gian ngắn. Ngoài công việc của một viên chức chính phủ, ông c̣n luu tâm đến quốc văn, quốc ngữ.
Được tiếp nhận ảnh huởng văn hoá Âu tây, Paulus Huỳnh Tịnh Của cùng chia sẻ một quan niệm với Trương Vĩnh Kư, theo đó, xă hội Việt Nam có khả năng và cần vận dụng các kiến thức và kinh nghiệm của học thuật Âu tây về các vấn đề khoa học, kỹ nghệ, kinh tế và chính trị, để canh tân, nhưng vẫn giữ ǵn, đào sâu và phát triển văn hoá Đông phương cổ truyền để duy tŕ bản chất và bảo tồn độc lập.
Ông là một trong số ít nguời tây học đầu tiên truớc tác bằng chữ quốc ngữ, để truyền bá học thuật Tây phương, mà không quên phổ biến văn hoá Đông phương cổ truyền. Sau và cùng với Trương Vĩnh Kư, Paulus Huỳnh Tịnh Của là nguời có công xây đắp rất nhiều cho nền văn chương quốc ngữ trong những buớc đầu, nhất là ở Nam Kỳ.
Huỳnh Tịnh Của sáng tác khá nhiều. Theo ông CORDIER (1) th́ Paulus Huỳnh Tịnh Của sáng tác cả thảy khoảng 17 tác phẩm. Có thể xếp chúng thành hai loại : loại biên khảo và loại phiên âm.
Loại biên khảo có nội dung phổ biến kiến thức hoặc sưu tầm phóng tác các tác phẩm đời truớc. Đó là những cuốn sau đây :
1. Chuyện giải buồn, 2 tập, 112 truyện, in năm 1880 và 1885
2. Maximes et proverbes, in năm 1882
3. Gia lễ, in năm 1886
4. Sách bác học sơ giai, in năm 1887
5. Sách quan chế, in năm 1888
6. Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, 2 cuốn, in năm 1895 và 1896
7. Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn, in năm 1897
8. Câu hát góp, in năm 1904.
9. Ca trù thể cách, in năm 1907
Loại phiên âm, chuyển sang quốc ngữ những chuyện nôm xưa của các tác gia đời truớc. Đó là những cuốn sau đây :
1. Quan âm diễn ca, in năm 1903
2. Trần Sanh diễn ca, in năm 1905
3. Chiêu Quân cống Hồ truyện, in năm 1906
4. Bạch Viên, Tôn Khúc truyện, in năm 1906
5. Văn Doanh diễn ca, in năm 1906
6. Thoại Khanh, Châu Tuấn truyện, in năm 1906
7. Thơ mẹ dạy con, in năm 1907
8. Tống Tử Vuu truyện, in năm 1907
Theo Phạm Thế Ngũ (2) th́ đa số các sách trên đều thất truyền cả, chỉ c̣n t́m lại đuợc 3 cuốn là Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Chuyện giải buồn và Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn.
Tại Thư Viện Giáo Xứ Việt Nam Balê, chúng ta có được 2 tác phẩm là Đại Nam Quốc Âm Tự Vị và Chuyện giải buồn.
Trong tất cả những tác phẩm ấy, tác phẩm đồ sộ nhất và qua đó Paulus Huỳnh Tịnh Của đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng quốc văn mới là pho Đại Nam Quốc Âm tự Vị. Đây là pho Đại Nam Quốc Âm Tự Vị đầu tiên của Việt Nam , do người Việt Nam biên soạn. Việc làm này của Paulus Huỳnh Tịnh Của thực là quá sớm, quá táo bạo. Hơn ba chục năm sau ta mới thấy một hội văn học ngoài Bắc là hội Khai Trí tiến đức nghĩ đến tiếp tục công việc. Và cho tới nay kể cả về tự điển Việt Nam chúng ta vẫn chỉ có hai cuốn ấy thôi. (3)
2. PHO ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM
Sau đây, để tŕnh bày về pho Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, tôi xin đuợc
. giới thiệu sơ luợc về cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị
. trích đọc vài chữ trong cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị
. và ghi lại vài suy nghĩ vắn tắt về cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị.
a. Giới thiệu sơ luợc về cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị
Truớc nhất, về giới hạn việc làm của ḿnh, Paulus Huỳnh Tịnh Của chủ trương làm một cuốn tự vị vắn gọn, chỉ kê liệt các tiếng và định nghĩa một cách vắn tắt, chứ không có chú giải, dẫn điển, dẫn tích. Ông viết : “Có kẻ hỏi tự điển, tự vị khác nhau thế nào ? Sao sách ta làm kêu là tự vị mà không gọi là tự điển ? .... Tự điển, tự vị khác nhau có một sự rộng hẹp. Tự điển phải có chú giải, mỗi chữ, mỗi tiếng đều phải dẫn điển, dẫn tích, nguyên là chữ sách nào, nguyên là lời ai nói, cả thảy đều phải có kinh truyện làm thầy ; chí như tự vị cũng là sách hội biên các thứ chữ, cùng các tiếng nói, song trong ấy thích chữ một, nghĩa một, mà không dẫn điển tích ǵ.” (4)

Đại Nam quốc âm tự vị in tại Sài G̣n năm 1895-1896
C̣n như nội dung của cuốn tự vị, th́ ngay từ trang b́a, Paulus Huỳnh Tịnh Của đă ghi rơ ngay trong tên sách rằng : “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị tham dụng chữ nho có giải nghĩa, có dẫn chứng, muợn 24 chữ cái phương tây làm chữ bộ.” (5). Cuốn sách gồm hai tập, tập 1, từ vần A đến hết vần L, in vào năm 1895 ; tập 2, từ vần M đến hết vần X, in vào năm 1896.
Theo ấn bản mới nhất, do Nhà Xuất Bản Trẻ in vào năm 1998, cả hai tập là 1210 trang, tập 1 gồm 608 trang, tập 2 gồm 602 trang.
Đến việc thực hiện cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Paulus Huỳnh Tịnh Của đă đuợc một nguời Pháp tên là A. LANDES giúp đỡ rất nhiều về ư kiến cũng như phương pháp. Ông này là một nhà Đông phương học, có học chữ nho và từng làm Giám đốc Truờng Thông ngôn ở Sài G̣n từ năm 1885. Cũng chính A. LANDES là nguời, vào năm 1895, đang làm Đổng lư Văn pḥng cho Toàn Quyền DE LANESSAN, đă khuyên Paulus Huỳnh Tịnh Của xin Thống Đốc Nam Kỳ xuất quỹ để xuất bản bộ tự vị này. Nhung công việc chính, vẫn chỉ do Paulus Huỳnh Tịnh Của tŕ chí thực hiện, như lời ông viết rằng “nhân khi rỗi rảnh, ta cứ việc làm theo tiếng ta, chữ ta, viết đi chép lại, ngày đêm khó nhọc, hơn bốn năm trời mới thành công việc.” (6).
b. Trích đọc vài chữ trong cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị
Bây giờ xin giới thiệu hai chữ đă đuợc Paulus Huỳnh Tịnh Của giải nghĩa trong cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, chữ ĂN và chữ THẬT (THIỆT, THỰC).
Chữ ĂN, (7) chính là một chữ nôm chứ không phải là chữ hán, cho nên bên cạnh cách viết chữ quốc ngữ ĂN, về phía phải có chua chữ “n” nghia là chữ nôm và về phiá trái có vẽ h́nh chữ nôm.
Nghĩa chữ đơn là “Nhai nuốt, huởng dùng”
Đuợc tŕnh bày từ giữa trang 9 đến trang 12, qua hai cột sách mỗi trang, tất cả là năm cột sách, chữ ĂN, là chữ đơn và chữ chính, đă đuợc giải nghĩa qua 125 chữ ghép. Tất cả các chữ ghép này đều có thể luợm lặt từ ba nguồn gốc chính :
. những chữ luợm lặt từ các áng văn nôm nổi tiếng như truyện Kiều, truyện Lục Vân Tiên, ... như chữ “ăn dứt,...”
. những chữ luợm lặt từ ca dao tục ngữ như chữ “ăn ra, ăn hồ,...”
. những chữ luợm lặt từ những từ ngữ thông dụng hàng ngày, như chữ “ăn mừng, ăn lời, ăn tết, ăn chay,...”
Chữ THẬT (8) v́ là gốc chữ hán, nên về phiá phải có chua chữ “c”,
Nghiă chữ đơn là “(thiệt) chắc, hột”, nó đuợc giải nghĩa qua 34 chữ ghép.
Chữ THIỆT (9) đuợc tŕnh bày qua hai chữ khác nhau :
. chữ THIỆT, gốc hán nôm, về phiá phải có chua chữ “c n”, nghĩa chữ đơn là “Luỡi ; dùng nôm th́ là thâm tổn, bị lụy, thua sút, mất phần nhờ”, đuợc giải nghĩa qua 18 chữ ghép.
. chữ THIỆT thứ hai, gốc chữ hán, về phiá phải có chua chữ “c”, nghia chữ đơn là “’(Thật) chắc”, đuợc giải nghĩa qua 16 chữ ghép.
Chữ THỰC (10) đuợc tŕnh bày qua ba chữ khác nhau :
. Chữ THỰC, gốc chữ hán, về phiá phải có chua chữ “c”, nghia chữ đơn là “Ăn”, đuợc giải nghĩa qua 21 chữ ghép.
. Chữ THỰC thứ hai, cũng gốc chữ hán, về phiá phải cũng có chua chữ “c”, nghĩa chữ đơn là “Trồng, vun trồng” đuợc giải nghĩa qua 1 chữ ghép, chữ “Hóa thực”.
. Chữ THỰC thứ ba, cũng gốc chữ hán, về phiá phải cũng có chua chữ “c”, nghiă chữ đơn là “Ăn khuyết” đuợc giải nghĩa qua hai chữ ghép, là “Nhựt thực, Nguyệt thực”.
c. Vài suy nghĩ vắn tắt về cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị.
Qua sự trích đọc vài chữ trong cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị như vậy, ta thấy cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Paulus Huỳnh Tịnh Của có những đặc điểm sau đây :
1. Ngữ vựng phong phú. Qua tự ĂN, với 125 chữ ghép khác nhau, cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Paulus Huỳnh Tịnh Của chứng tỏ một công lao t́m ṭi và ghi chú công phu, và kho ngữ vựng nó chứa đựng thành ra rất phong phú.
Nó bao gồm chẳng những các từ ngữ văn chương, chung cho cả ba miền đất nuớc, rút ra từ các áng văn chương bác học và b́nh dân.
Mà nó c̣n ghi nhận ngôn ngữ b́nh dân, đặc biệt là những tiếng có màu sắc địa phương đuợc xử dụng nhiều ở miền Nam và Nam Trung.
2. Cách giảng giải rơ rệt. Nó không chỉ vắn tắt giảng nghĩa, mà đôi khi c̣n tŕnh bày nguồn gốc của chữ để cho nghĩa đuợc rơ hon, bằng cách trích thêm những câu tục ngữ, ca dao, những câu thơ Kiều, Lục Vân Tiên, ...
3. Phân biệt chữ Hán Nôm. Sành cả chữ Pháp, chữ Hán lẫn chữ Nôm, Paulus Huỳnh Tịnh Của đă không dùng cách xếp loại theo tự loại, nhưng đă biết lấy sáng kiến để phân biệt các tự theo hai gốc văn tự là Hán Việt và Nôm. Sáng kiến này rất hợp với ngôn ngữ Viêt Nam. Nó giúp cho độc giả hiểu rơ và dùng đúng các từ hán việt đă và đang có. Nó cũng giúp cho các nhà ngữ học sáng tạo thêm những từ mới theo yêu cầu của công nghiệp và giáo dục của thế giới hiện đại.
4. Phương pháp khoa học. Tra Đai Nam Quốc Âm Tự Vị kỹ, nguời ta thấy tác giả có phương pháp làm việc rất là khoa học. Một đàng ông biết tuân thủ nguyên tắc ngôn ngữ thống nhất, một đàng ông cũng biết thích nghi áp dụng nguyên tắc biến hóa thực tiễn của ngôn ngữ.

(c̣n tiếp)